GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 12
Tác phẩm văn học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lài
Ngày gửi: 22h:19' 13-07-2025
Dung lượng: 640.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lài
Ngày gửi: 22h:19' 13-07-2025
Dung lượng: 640.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Thông tin ebook
Phần Thứ Nhất
Ân Nhân
Bàn Việc Nhà
Bước Ðầu
Phần Thứ Hai
Tiểu Gia Ðình
Thú Thực
Mẹ Con
Hội Kiến
Cô Hàng Quà
Ông Thầy Thuốc
Thủ Tiết
Họa Sĩ
Phần Thứ Ba
Người Xưa
Một Bức Tranh
Hai Quan Niệm
Cháu Ái
Trên Ðồi
Bên Lò Sưởi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Phần Thứ Nhất
Một buổi chiều thứ bảy. Trường Bảo hộ đương ở trong cảnh nhộn nhịp. Tiếng giày, tiếng
guốc qua sân rất là huyên náo.
Trong những phòng khách nhà trường, cha mẹ học trò ngồi đợi lượt vào phòng ông phó đốc
để xin phép cho con ra. Tiếng nói chuyện ồn ào, nào ông hỏi thăm về việc học của con, nào bà
mắng con vì bị phải ở lại trong trường. Rồi từng bọn hoặc hai ba, hoặc bốn năm người cùng
nhau ra cổng trường gọi xe tay, hay chờ xe điện về phố.
Ðứng vơ vẫn bên hàng giậu giăng, một cô thiếu nữ vào trạc mười bảy mười tám, chít khăn
ngang vận áo trắng số gấu, chân đi guốc ngơ ngác nhìn sân trường, như muốn vào, nhưng dùng
dằng lo sợ. Nước da cô trắng xanh, quầng mắt đen sâu hoắm càng làm tăng vẻ rực rỡ long lanh
của hia con ngươi sáng dịu. Trong cái mặt trái Xoan, má hơi hóp, môi khô khan, chỉ có hai con
mắt là có vẻ hoạt động khác nào như hai ngôi sao lấp lánh sau làn mây mỏng. Thoáng trông cô,
cũng biết cô có điều tư lự.
Người canh cổng thấy cô thập thò ra dáng băn khoăn thì lên tiếng hỏi:
- Chị kia muốn gì?
Cô ấp úng:
- Thưa thầy, tôi... tôi...
Bác canh cổng lại quát:
- Cái gì?
- Thưa thầy... không ạ.
- Không thì đi, chứ đừng đó nhìn gì? Hay lại chờ cậu nào đấy? Guốc với ghiếc!
Cô thiếu nữ xấu hổ lui ra mấy bước rồi lại ngần ngừ dừng lại. Lúc bấy giờ, một cậu học trò độ
chín, mười tuổi, đứng sau hàng giậu vẩy cô. Cô rón rén đến gần, mắt lấm lét nhìn người canh
cổng. Qua kẽ giậu, cậu bé nói ra:
- Cô giúp tôi việc này nhé, cô nhé?
Thiếu nữ ngắm cậu bé quần áo lôi thôi, chân tay đầy mực thì đoán chắc rằng không phải con
nhà giàu có, bỗng đem lòng thương người có lẽ cùng ở trong một cảnh với mình. Cô dịu dàng
hỏi:
- Em muốn chị giúp điều gì vậy?
- Chị làm ơn xin phép cho tôi ra.
Cô buồn rầu:
- Nhưng chị xin phép sao được cho em ra?
- Ðược, chị cứ nhận tôi là em.
Cô thiếu nữ ngẫm nghĩ:
- Vậy xin phép ở đâu, em?
Cậu bé vui vẻ trỏ tay vào tòa nhà bên cạnh cổng:
- Ở phòng giấy ông phó đốc kia kìa.
Cô mỉm cười:
- Nhưng ông phó đốc biết chị nói dối mất.
- Không, mọi khi tôi vẫn nhờ người xin phép như thế đấy.
- Nhưng chị để trở đại tang, thì nhận em là em thế nào được?
Cô thấy cậu bé có ý buồn rầu thì ôn tồn an ủi:
- Thôi em bằng lòng vậy. Nhưng sao mẹ em không đến xin phép cho em?. Cậu bé trả lời:
- Mẹ tôi chết mất rồi. Còn cha tôi với dì tôi thì chả bao giờ đến xin phép cho tôi ra.
Thiếu nữ nghe câu trả lời, động lòng thương.
Cậu bé thất vọng, toan quay vào thì cô gọi lại nói:
- Bây giờ chị lại nhờ em một việc này nhé: Em có biết anh Dương Huy không?
- Không. Anh ấy học lớp nào?
- Học năm thứ ba.
- Cô muốn hỏi anh ấy à? Bảo bác canh cổng bác ấy tìm cho.
- Anh Huy là em chị. Chị muốn xin phép cho anh ấy ra.
- Vậy thì chị vào buồng ông phó đốc mà xin phép.
Cậu bé nói xong, cắm cổ chạy vào trong sân trường.
Cô thiếu nữ liền đánh bạo lại gần người canh cổng rồi nói se sẽ:
Thưa thầy, tôi muốn xin phép cho em tôi ra.
Bác canh cổng gắt:
- Sao ban nãy hỏi lại báo không có việc gì? Vậy vào nhà ông phó đốc kia kìa. Mau lên! Sắp hết
giờ rồi.
Cô thiếu nữ mừng quýnh, hấp tấp chạy tới chỗ người canh cổng vừa trỏ. Trong phòng khách
không còn ai. Cô nhìn trước nhìn sau sợ hãi, không dám lên tiếng, rồi vơ vẫn đứng ngắm những
tranh vẽ treo trên tường. Cô giật mình quay đầu lại, vì vừa nghe có tiếng giày ở sau lưng. Một
người thư ký hất hàm hỏi:
- Ðến có việc gì?
Cô cất giọng run run, sẽ đáp lại:
- Bẩm thầy, tôi đến xin phép cho em Huy.
- Cậu Huy học lớp nào?
- Bẩm năm thứ ba.
- Cô là ai?
- Bẩm thầy tôi là, Dương thị Mai.
Thầy thư ký mỉm cười:
- Không, tôi không cần biết tên tuổi cô, tôi chỉ hỏi cô là bà con gì với cậu Huy mà đến xin
phép cho cậu ấy?
- Bẩm thầy, tôi là chị.
- Vậy cô vào đây.
Thầy thư kí đưa Mai vào buồng bên cạnh trỏ ghế bảo ngồi đợi. Ông phó đốc đương viết ở
bàn giấy, nghe tiếng thì thào liền ngẩng đầu lên hỏi thầy thư ký. Mai đứng đăm đăm nhìn hai
người nói chuyện nhỏ với nhau bằng tiếng Pháp, trong lòng chỉ ngay ngáy không xin được
phép. Bỗng thấy thư ký gọi Mai lại bảo:
- Quan phó đốc truyền đáng lẽ Dương Huy bị đuổi rồi vì chưa trả tiền ăn tháng giêng và
tháng hai, tuy đã gửi hai lần giấy đòi, nhưng quan lớn thương Huy là học trò giỏi trong lớp nên
còn dung thứ cho. Vậy thế nào từ nay cho đến cuối tháng cũng phải đem tiền đến trả.
Mai ấp úng:
- Bẩm quan lớn thương tình chúng con mồ côi cha mẹ.
- Nhà nước đã miễn cho học phí còn kêu gì nữa! Vậy cô có đem tiền ăn nộp cho cậu Huy đấy
không.
- Bẩm quan lớn con xin khất đến cuối tháng.
- Ấy, sai hẹn thì em cô thể nào cũng bị đuổi đấy nhé, hiểu chưa?
- Xin vâng.
- Thế bây giờ cô xin phép cho cậu Huy ra chứ?
- Vâng.
- Sao người thay mặt cha mẹ cậu Huy không đến?
Mai lo sợ, run lập cập không nói ra lời. Ông phó đốc trông thấy, lấy làm thương hại, bảo thầy
thư ký:
- Thôi, cho phép người ta.
Thầy thư ký liền quan lại bảo Mai:
- Quan lớn cho phép đấy.
Mai mừng chảy nước mắt, chấp tay vái dài, rồi theo thầy thư ký ra phòng khách. Thầy ra sân
báo một anh thợ chạy giấy đi tìm Dương Huy.
Mười phút sau, một cậu trẻ tuổi vào phòng, y phục và tướng mạo từa tựa giống Mai. Nhất là
cặp mắt sáng quắc của hai người thực hệt như đúc, khiến ai mới thoạt trông cũng biết ngay hai
người thiếu niên ấy là chị em ruột. Gặp chị, Huy mừng quýnh vội kêu:
- Chị!
Mai cũng chạy lại.
- Em!
Rồi hai người đứng sững như nghẹn lời, hai cặp mắt nhìn nhau, nhỏ lệ, Huy cười gượng bảo
chị.
- Xa xôi thế mà chị cũng về thăm em được.
- Chị về...
Mai chỉ ứa hai dòng nước mắt không nói nên lời. Huy an ủi chị:
- Chị chả nên buồn, ở trên đời em có chị, chị có em, không đủ vui sao?
Mai mỉm cười:
- Không, chị có buồn đâu, chị gặp em, chị mừng quá, chị sung sướng quá. Chị về xin phép cho
em ra chơi nhà bác...
Mai nói luôn như để giấu sự cảm động, giấu sự ưu phiền:
- Vậy em đi thay quần áo để ra phố với chị.
- Chị đã...
Huy không dám nói dứt câu. Nhưng Mai trả lời luôn, như đã đoán được tư tưởng của em:
- Ðã, chị đã nộp tiền ăn cho em rồi.
Huy có ý không tin:
- Sao chị có tiền? Hay chị lại vay đằng bác Phán đấy?
- Không mà.
- Chị cứ giấu em mãi. Chị còn làm gì ra tiền. Còn như nhờ vào bác Phán thì em không muốn.
Bác lương tháng có bảy tám chục mà các anh chị thì đông. Mình chả nên quấy quả. Vả ta lại
phải biết lập thân chứ cứ nương tựa vào họ hàng thân thích thì em lấy làm xấuhổ lắm.
- Nhưng chị có nhờ ai đâu?
Mà nào có trông cậy vào ai được đâu mà hòng nhờ! Chị không nhớ ngày mẹ mất, bác Phán
có giúp đỡ được đồng nào. Lại suốt một năm thầy ốm trước khi qua đời thì họ hàng đã cưu
mang cho được một xu nhỏ.
- Em kể lể lôi thôi lắm.
- Không phải em lôi thôi, em chỉ cốt can chị đừng tưởng nhớ đến sự nhờ vả bác Phán làm gì.
Em học được thế này cũng đã may mắn cho em lắm rồi, mà có lẽ em cũng đủ chữ đi kiếm tiền
để nuôi chị, nuôi em. Chị em ta chỉ nên tự lập lấy thân là hơn.
- Không được. Em nghĩ thế thì nhầm to, khi thầy lâm chung, thầy dối dăng những gì em còn
nhớ không?
Câu hỏi của chị như gợi sự đau đớn ở trong lòng Huy, như vẽ ra một bức tranh bi thảm.
Hồi đó về cuối thu. Cụ Tú Lãm nằm ở giường bệnh người gầy xọp chỉ còn nắm xương da bọc.
Nhất là bộ mặt hốc hác, mắt sâu hoắm, má lõm xuống chẳng khác gì một cái đầu lâu.
Ðêm khuya, gió lạnh vù vù thổi lọt qua khe cửa bức màn. Ngọn đèn dầu hỏa chiếu ánh sáng
rung rinh lờ mờ vào những đôi câu đối sơn đen, sơn đỏ treo ở cột, ở tường. Sau bức màn che
trắng, bài vị bà Tú đặt trên cái ngai sơn son thiếp vàng. Trên bàn thợ bộ thất sự bằng đồng
trông ẩn lộ như trong tấm hình chụp không được rõ.
Cạnh chiếc hỏa lò than xoan đỏ ối, lách tách nổ liên thanh. Mai quì bên giường, hai tay nắm
bàn tay khô khan của cha già, như cố giữ người ốm lại không cho rời sang thế giới bên kia. Còn
Huy thì ngồi ở cái ghế gỗ bưng mặt khóc, thỉnh thoảng lại gọi:
- Chị ơi, thầy có việc gì không, chị?
Mai cũng nức nở khóc không trả lời.
Cụ Tú hơi thở chỉ còn thoi thóp, dùng hết sức thừa nắm chặt lấy tay con gái. Mai biết rằng cụ
muốn dặn một lời cuối cùng, liền ghé lại gần hỏi:
- Thưa cha, cha dạy con điều gì?
Huy cũng làm theo chị, đứng dậy cúi đầu gần sát mặt người sắp từ trần, để nhận lấy những
lời giáo huấn tối hậu. Cụ Tú sẽ động môi thì thầm:
- Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ
can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha. Cha vui đến giờ cuối cùng.
Cha hy vọng thế nào các con cũng làm vẻ vang cha, cho linh hồn cha ở nơi chín suối. Cha hy
vọng thế nào em Huy cũng được thành tài và trở nên một người hữu dụng cho xã hội. Cha mất
đi còn của cải gì để lại cho hai con. Cha chỉ có ba thứ gia bảo này ông cha để lại cho cha, nay cha
truyền lại cho hai con mà thôi. Là giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch, và đem hết nghị lực ra
làm việc.
Sức cụ Tú chỉ còn được đến thế. Nói dứt mấy câu tâm phúc, cụ thiêm thiếp dần dần.
Bên ngoài, gió vẫn thổi vù vù, hạt mưa lốp đốp trên mái ngói. Văng vẳng ở xóm xa tiếng chó
sủa đêm...
Trong khoảng mấy giây đồng hồ cái mẩu đời dĩ vãng chạy qua trí nhớ Huy như bức tranh in
loáng trên tấm kính ảnh.
Cậu đứng ngẫm nghĩ. Tiếng chị nhắc lại câu hỏi khiến cậu giật mình ngơ ngác.
- Em còn nhớ không?
Huy se sẽ trả lời:
- Em nhớ... Em nhớ lắm. Em nhớ nên em quả quyết đem hết nghị lực ra làm việc.
- Nghĩa là bây giờ em phải học đã.
Huy thở dài:
- Học? Nhưng tiền?
Mai gượng cười nói cứng cáp:
- Tiền, đã có chị, em đừng lo.
Mai buột mồm nói ra câu đó, rồi chính Mai lại lấy làm lo. Huy như hiểu thấy được ý tưởng
của chị, mỉm cười bảo Mai:
- Chị làm như chị có tài quỉ thuật hóa phép ra tiền được. Ðồn mấy năm thấy bán buôn thua
lỗ, lại còn tiền thang, vườn ruộng khánh kiệt, của cải khánh kiệt chị giấu sao được em?
- Hết vườn ruộng thì ta bán nhà để kiếm ít vốn buôn. Làm gì lại không đủ tiền cho em ăn
học. Em cứ yên tâm.
Huy vội gạt:
- Không được chị ạ. Chị cứ để em thôi học ra xin việc làm ở các nhà buôn còn hơn. Em không
muốn vì em mà chị phải ngược xuôi vất vả.
Mai cười:
- Thế thì em nhầm: chị chỉ muốn vì em đem hết nghị lực ra làm việc như lời thầy dạy đấy
thôi.
Lúc bấy giờ có tiếng kẹt cửa. Thầy thư ký ở buồng ông phó đốc bước vào. Hai chị em cùng
quay lại, thầy thư ký cất giọng gắt:
- Chưa về còn đứng đó làm gì thế?
Hai chị em ra đến cổng trường. Huy ngần ngừ bảo chị:
- Hay chị để em ở trong trường thôi.
Mai buồn rầu nhìn em nói:
- Mấy chị khi về thăm em được. Em chịu khó một tý.
Huy có dáng nghĩ ngợi:
- Vâng thì em ra. Lâu nay em không gặp chị, em nhớ lắm. Em chỉ ước ao được cùng chị nói
chuyện thực lâu để ôn lại cái thời còn nhỏ của chúng ta khi xưa, khi còn thầy còn mẹ...
Mai nhìn, cặp mi hơi cau, như muốn bảo em đừng nhắc tới câu chuyện buồn làm gì. Huy nói
luôn:
- Nhưng em chỉ sợ...
Thấy Huy ngần ngại không nói dứt câu. Mai tươi cười hỏi:
- Em có điều gì?
- Trông các anh chị ấy, em ngượng lắm.
- Việc gì mà em ngượng. Bác Phán đối với thầy tuy là một người anh họ, nhưng chị coi cách
cư xử đối với chị em ta cũng cần lắm, chỉ vì chả được giàu có gì, nên bác không giúp đỡ được
chị em ta trong khi túng bần đó thôi.
Hai chị em đi bên cạnh nhau trên con đường Quan Thánh, nét mặt rầu rầu. Nước da trắng
xanh phản chiếu màu lá xanh của rặng sấu bên đường lại càng xanh, lại càng lộ vẻ gầy yếu của
đôi khổ mặt xương. Huy nhìn chị, có ý lo ngại:
- Chị độ này gầy lắm.
Mai cười:
- Thì em cũng chẳng béo với ai! Chị tuy gầy nhưng chị còn hơn em. Ai lại con giai mà mới đi
một quãng đường đã thở hồng hộc.
Huy có lẽ cốt để chị khỏi buồn nên tươi cười nói:
- Không chị ạ, em vẫn khỏe đấy, chỉ vì sáng nay em uống thuốc tẩy nên hơi mệt đó thôi. Ðến
mai, em lại mạnh như thường.
Mai sợ hãi, vội hỏi:
- Giời ơi! Sao em phải tẩy thế? Có việc gì không?
- Khổ? Hơi một tý thì chị sợ cuống lên. Người ta tẩy là thường chứ.
Rồi nói lảng sang chuyện khác, Huy trỏ hồ Tây bảo chị.
- Chị trông cảnh hồ Tây lúc mặt trời lặn có đẹp không kia.
Mai sực nghĩ ra câu chuyện được nghe từ ngày còn nhỏ, nhìn hồ hỏi em:
- Có phải hồ này ăn sang bên Tàu không em?
Huy cười:
- Ngày xưa thì nó ăn sang bên Tàu thực đấy chị ạ, nhưng bây giờ có con đê Yên Phụ ngăn nó
với sông Nhị Hà thì nó không ăn sang bên Tàu nữa.
- Nào chị có biết đâu! Chị thấy người ta kể chuyện. Ðức Khổng Minh Không sang Tàu lấy
đồng ở kho về đúc cái chuông khổng lồ. Khi đánh chuông, con hươu vàng nó tưởng mẹ nói gọi,
nó chạy sang ta. Rồi đến đây khi trước làrừng, nó tìm kiếm mẹ nó không thấy, liền phá phách
trũng xuống thành hồ.
- Huy bản tính không ưa những sự huyền hoặc. Hễ nghe ai kể những câu chuyện hoang
đường thì bao giờ cũng cười vang, cũng chế riễu. Thế mà lần này, nghe câu chuyện hưu vàng
của chị, cậu không những không cười mà lại còn lắng tai, chú ý, và có vẻ cảm động lắm. Cậu lờ
đờ đưa mắt nhìn quanh hồ một vòng như theo lối đi của con hươu mất mẹ, rồi khôi hài bảo
Mai:
- Vì nó không có chị.
Mai không hiểu, ngơ ngác hỏi:
- Em nói ai?
- Em nói con hươu vàng của chị. Nếu nó còn chị ở trên đời thì chẳng phải chạy đến tận nơi
chân trời để tìm mẹ nó có lẽ đã chết rồi.
Câu nói của Huy khiến Mai sung sướng chảy nước mắt, đứng đâm đâm nhìn em cười mà
không nói.
Huy thấy Mai cười thì cũng cười, rồi bảo chị.
- Ta đứng chờ xe điện, chị ạ.
- Chúng ta đi bộ có hơn không em? Ðỡ được một hào mà lại khỏe người. Ban nãy từ nhà bác
Phán lên trường, chị cũng đi bộ đấy.
- Trời ơi! Chị đi bộ từ phố chợ Hôm lên trường. Sao chị biết đường?
- Bác Phán bảo cứ theo đường xe điện mà đi.
Huy nghe chị nói lấy làm thương, ngỡ rằng chị trong túi dễ không còn xu nào để đi xe. Cậu
liền giả vờ kêu mệt không đi được nữa và nói với chị hãy dừng chân ngồi nghỉ ở tam quan đến
Trấn Võ. Vẻ lo sợ lộ trên nét mặt Mai. Cô buồn rầu bảo em:
- Có lẽ em phải uống thuốc bổ mới được.
Huy hối hận rằng đã làm cho chị kinh hãi, liền cười sằn sặc rồi an ủi chị:
- Em đùa đấy! Em không mệt mà cũng không sao cả. Chỉ vì em giàu lắm, nên muốn thết chị
một cái vé xe điện đó thôi.
- Em làm gì mà giàu thế?
- Em chả làm gì cả, nhưng em vừa có đồng bạc.
- Ai cho em đây?
- Một người bạn nghèo hơn chị em mình.
Mai có ý không bằng lòng:
- Sao em lại thế? Ðến bác Phán em còn chả muốn nhờ, mà nay lại nhận tiền của một người
bạn nghèo.
- Vâng, chị mắng em rất phải. Nhưng hãy để em kể đầu đuôi câu chuyện cho chị nghe đã nào!
Trong lớp em có một anh tên là Trọng. Anh nghèo nhưng không phải vì nghèo mà không ai
thèm chơi với anh. Họ xa anh chỉ vì anh là con nhà hèn hạ. Cha mẹ anh làm nghề bán hàng
rong.
- Ðấy em coi, bán hàng rong mà cũng đủ tiền nuôi con đi học đấy!
- Thưa chị, bán hàng rong thì tất nhiên là nuôi thân cũng chẳng xong... Người chị tốt lắm,
thương Trọng, yêu quý Trọng như một người mẹ âu yếm con. Thứ năm chủ nhật nào cũng
mang quà bánh vào thăm em. Mà thương hại! Lần nào vào thăm em cũng lần lút như kẻ cắp,
không dám để ai biết, ấy chỉ vì người chị mà anh em bạn học không ai thèm chơi với Trọng.
Mai cảm động:
- Khốn nạn? Sao thế em?
- Vì chị Diên, tên chị ấy là Diên, vì chị Diên làm... Huy ngập ngừng không nói được dứt câu,
như không tìm được, hay không dám nói đến tên cái nghề mà Diên đương lăn lóc để kiếm tiền
nuôi em ăn học, Mai đưa vạt áo lên lau nước mắt, trả lời em:
- Thôi! Chị hiểu rồi. Chị chỉ biết cô Diên là một người đáng thương.
- Mà thực tế, chị ạ, chị ấy tốt lắm, không những thương Trọng, mà còn đem lòng thương
chung cả những người khốn khổ ở trên đời... Em vẫn ái ngại cho chị ấy là người thông minh, có
nhan sắc mà sao lại bị sa vào cái cảnh bùn lầy như vậy. Lần nào chị ấy vào thăm Trọng. Trọng
cũng rủ em đến cùng ngồi nói chuyện. Có lần chị Diên chẳng giấu giếm, kể cho em nghe hết
những nỗi khổ sở của một đời giang hồ. Chị ấy kính mến em lắm, còn em thì đối với chị ấy bao
giờ cũng chỉ có những lời an ủi.
Mai có dáng nghĩ ngợi, lo lắng:
- Thế năm nay cô Diên bao nhiêu tuổi?
- Năm nay chị ấy đã ngoài ba mươi, nhưng trang điểm vào trông còn trẻ lắm. Thứ năm
trước, chị ấy hớn hở vui cười, vào thăm Trọng, em nói đùa: "Hôm nay trông chị trẻ như con gái
mười tám". Chị ấy cũng cười nói đùa lại: "Thế mà chị băm hai rồi đấy!" Chị Diên nói buông lời
thì buồn rầu xin lỗi em ngay: "Chết chửa! Cậu tha thức cho tôi nhé. Lắm lúc tôi điên rồ cứ coi
cậu như em Trọng". Em cười, đáp lại: "Thì chị là chị anh Trọng cũng như chị em chứ gì!" Câu
trả lời của em khiến chị Diên rơm rớm nước mắt thở dài. Chắc chị ấy tưởng đến lòng khinh bỉ
của bọn anh em bạn học của Trọng đối với chị em ấy hẳn. Rồi chị ấy mở ví đưa cho Trọng và
em mỗi người một đồng bạc, nói để lấy tiền ăn quà. Em từ chối thế nào cũng không được. Lại
thêm Trọng cứ nằn nì nói mãi, nên em nể lời phải nhận cho chị em chị ấy vui lòng. Vả xưa kia,
em giúp Trọng như thế là thương.
Mai ngồi nghe câu chuyện cảm động không nói.
Buổi chiều mùa xuân hạt mưa lấm tấm, bao phủ hồ Tây bát ngát mênh mông. Con thuyền
nan của khách chơi xuân rập rờn trên mặt nước. Cơn gió may thoảng đưa, mấy chiếc lá vàng
rơi lác đác. Mai ngước mắt nhìn lên, búp xuân non mơn mởn đầy cành. Cái cảm tưởng về xuân
dịu dàng êm ái, khiến Mai hé cặp môi tươi thắm, mỉm cười với xuân, trong lòng chứa cha hy
vọng.
Mấy tiếng "keng... keng" gọi khách của xe điện... Mai giật mình. Giấc mộng tan, mà hy vọng
cũng tan... Hai chị em cùng lên xe về nhà.
Về đến nhà ông Phán Hai thì gặp giữa lúc ông bà đương có khách. Chị em Huy ra chào, ông
bà chỉ sẽ gật rồi lạnh lùng bảo vào nhà trong. Cái tính lãnh đạm của ông Phán, Huy cho là một
tính tự nhiên, nên cũng không cho là bị hất hủi, cậu vui cười vái chào một lần nữa, rồi cùng chị
vào nhà trong.
Ngồi chung quanh một cái bàn vuông năm người, ba cô con gái suýt soát tuổi Mai và hai cậu
con trai nhỏ vừa bắt đầu ăn cơm. Nhác thấy chị em Mai, cô Liên, cô lớn tuổi nhất đặt đũa xuống
bàn, chào.
- Kìa, cậu Huy đã ở trường ra. Chúng tôi chờ mãi!
Huy tươi cười:
- Mời các chị, các anh xơi cơm đi. Hai bác chưa xơi cơm à?
- Hai bác còn chờ ăn cơm với khách.
Liên đứng dậy gọi sen lấy thêm bát đũa, mời Mai và Huy cùng ngồi ăn. Hai chị em chỉ ăn cho
xong bữa, chứ chẳng chuyện trò gì, vì hình như có một làn không khí lãnh đạm đương bao bọc
lấy cái bàn, Mai ngắm ba chị em con ông Phán từ cử chỉ cho chí ngôn ngữ đối với mình không
có chút thân mật, nên họ hỏi câu nào chị trả lời cho qua quýt mà thôi. Còn Huy thì bản tính vẫn
vui đùa đấy, nhưng lần này trí nghĩ bận loay hoay đến vấn đề tiền ăn học nên cậu có vẻ tư lự
phiền muộn.
Ðêm hôm ấy ở nhà ngoài, chủ khách đánh đổ tôm. Ở nhà trong mọi người đều đã yên giấc,
trừ chỉ Mai là còn thức. Hai chị em xa cách nhau lâu ngày, có biết bao chuyện kể cho nhau nghe,
hết chuyện dĩ vãng, đến chuyện hiện tại sang chuyện tương lai. Luôn luôn những tính tình và
cảm tưởng buồn, vui kế tiếp nhau xô đẩy nhau ở trong tâm trí hai người. Nhưng đối với cài
tuổi thiếu niên chứa chan hy vọng, lại thêm có sức tưởng tượng rất dễ dàng, thì con đường
tương lai chỉ là một con đường trong vườn hoa tươi thắm dưới ánh sáng trong trẻo trời xuân.
Nên cái vui bao giờ cũng thắng nổi cái buồn.
Có lúc hai chị em ngồi yên lặng cùng mỉm cười trong đêm tối. Cái hạnh phúc vẫn vơ, mơ
màng hình như đương làm rung động hai tấm lòng son mà không ai có thể nói cho ai biết,
không ai có thể tả cho ai hay, không ai dám cất tiếng, sợ cái hạnh phúc đương âm thầm trong
tâm trí nó vụt bay đi mất, nó bay vụt vào cảnh mộng, như con chim vành khuyên thấy tiếng
động bay ẩn vào trong bụi rậm um tùm.
Vì chính lúc ấy Mai đương mơ mộng... Mai thấy em thi đậu... nổi tiếng giàu có sang trọng...
Còn Mai? Nào Mai có kịp tưởng đến Mai... Mai chỉ có cái cảm giác lờ mờ rằng suốt đời Mai được
ở bên cạnh em, săn sóc trông nom em như một người vú già...
Mai nghĩ đến chữ "già" thì Mai lại mỉm cười vơ vẫn. Không! Mai không già... Mai trẻ lắm...
mới mười chín cái xuân xanh... Mai cũng biết Mai trẻ, Mai đẹp... chỉ ngẩm cái nét mặt khinh
khỉnh của mấy chị em con bác Phán, Mai cũng đủ hiểu rằng Mai đẹp... Mai lại nhớ ở trên xe hỏa,
có một công tử vận tây đã lưu ý đến Mai, làm Mai phải bẽn lẽn cúi mặt.
- Chị!
Tiếng Huy gọi khiến Mai tỉnh choàng giấc mộng.
- Em bảo gì?
- Chị cứ để em thôi học, đi kiếm việc...
- Không được. Nhất định chị không để em bỏ học. Chị đã suy tính đâu ra đấy cả rồi, chị về
bán nhà và đất ở, thế nào cũng được ít ra là bốn năm trăm. Rồi chị em thuê cái nhà nhỏ ở trong
làng Bưởi, chị đã hỏi thăm rồi, chỉ độ ba đồng một tháng thôi. Em đi học còn chị, chị tìm cách
buôn bán, hoặc bán rau, bán đậu, hoặc bán hoa quả. Như thế, không những đủ chi dụng mà lại
có tiền để dành nữa kia.
Huy tươi cười đáp lại:
- Chị nghĩ thế, em lại nghĩ khác. Sang năm hết trở, thế nào bên cụ Chánh...
Mai cười ngặt nghẽo khiến cô Liên thức giấc chép miệng thở dài, càu nhàu, rồi Mai thì thầm
với Huy:
- Em ơi, con ông Chánh đã lấy con ông Hàn làng Yên Ninh rồi. Chứ chị mồ côi, mồ cút lại
nghèo nàn thế này thì ai thèm lấy. Huy có dáng bực tức:
- Thế ra họ bội hôn, bội ước rồi đấy!
- Em coi đó, giời cũng giúp cho giấc mộng của chị được thành sự thật nhé.
Mai ngẫm nghĩ một lát, lại nói:
- Chị cũng biết bán nhà đi thế là làm mất chỗ thờ phượng cha mẹ, nhưng sau này em làm
nên, về chuộc lại, lo gì. Và dưới suối vàng, cha mẹ cũng hiểu thấu nỗi lòng cho chị em ta.
Huy cho rằng những lẽ chị không được ổn thỏa, nhưng biết lòng chị đương đau đớn vì nhiều
uất ức, nên thương hại không dám cãi lý nữa, chỉ yên tĩnh ngồi nghe, như đứa con ngoan ngoãn
ngồi nghe lời mẹ dạy.
Ðồng hồ trên tường dè dè buông hai tiếng. Huy giật mình buồn rầu nghĩ tới cái thời gian
hiện tại, dịu dàng bảo chị:
- Thôi, tùy chị tự ý định liệu. Chị làm thế nào cho chúng ta có thể không bước chân tới nhà
bác Phán nữa là hơn hết.
- Chị cũng tưởng thế. Nhưng bây giờ khuya rồi em đi nghỉ thôi.
Huy liền từ biệt chị, ra ngủ ở nhà ngoài.
Ân Nhân
Khi ra tới nhà ga Hà Nội. Mai ngước mắt nhìn lên cái đồng hồ to tướng, to bằng cái mặt
nguyệt chùa làng Mai, thì hai cái kim đen nháy mới trỏ 12 giờ trưa. Mà mãi 1 giờ 50 mới có xe
hỏa đi Phúc Yên. Trước khi từ biệt chị, Huy đã mở cuốn sổ tay có bảng giờ xe chạy ra xem và
dặn chị kỹ càng. Nhưng vì Mai chẳng biết làm gì, nên cũng hỏi đường, thủng thẳng đi bộ ra ga
cho có việc và khuây nỗi buồn bực.
Mai buồn thực, buồn lắm, vì ban nãy, khi lên chào hai bác, xin phép tiễn em vào trường, rồi
ra ga về quê, Mai đã được nghe hai bác nói nhiều câu làm khổ tâm cho Mai. Nào những: "Không
có tiền thì học với hành gì? " Nào những "con gái nhớn thế kia, mà dám một mình dẫn thân đi
Hà Nội". Rồi bà phàn nàn, bà Phán dỗ Mai ở đây với bà để làm bầu bạn cùng các chị cho vui. Rồi
ông Phán khuyên Huy hãy tạm nghỉ học, ở đây dạy các anh để chờ kỳ thi trợ giáo, hoặc thừa
phái...
Huy tính nóng nảy trả lời ra giọng không bằng lòng:
- Thưa hai bác, cứ để chúng cháu tự lập lấy thân.
Bác Phán cười gằn:
- Ừ, thì tự lập lấy thân.
Còn Mai nghe lời hai bác, Mai chỉ đứng ngẫm nghĩ suy xét... Cô trông thấy rõ ràng con đườg
mà ông Phán định tâm hay là không chú ý muốn đưa hai chị em cô đi qua. Theo tưởng tượng
của cô, thì con đường ấy bao giờ cũng chỉ tới một cái đích chắc chắn: Suốt đời làm nô lệ. Cô đã
thấy ở làng cô biết bao cháu gái vì nghèo mà trở nên đầy tớ nhà bác, nhà chú, nhà cô, nhà dì.
Song cô chỉ mỉm cười, cố giữ nét mặt tươi tỉnh, ôn tồn đáp lại:
- Chúng cháu vẫn biết hai bác thương chúng cháu lắm. Vậy chúng cháu xin phép hai bác về
quê thu xếp công việc rồi chúng cháu xin tuân theo lời hai bác.
Rồi cô nhách một nụ cười cúi chào cáo biệt.
Cái nụ cười ấy vẫn còn ở cặp môi cô, khi cô đứng ở hiên ga hạng tư chờ giờ xe chạy. Những
điều cô bàn định tối qua với em, những điều suy tính lại với em khi đi đường từ nhà lên trường
sáng hôm nay, khiến cô chứa chan hy vọng... Cô mãi nghĩ đến công nọ, việc kia là xếp sẵn trong
trí cái đời lý tưởng, đến nỗi không lưu ý đến cảnh rộn rịp của nhà ga trước giờ xe chạy.
Bỗng Mai giật mình quay lại. Một người con gái bán bánh và trầu nước, đặt phịch cái thùng
xuống thềm mời cô:
- Cô xơi bánh giò nhé?
Mai lắc đầu từ chối, cô nhớ đến số tiền trong túi tất cả cơ nghiệp còn hai đồng bạc. Ðó là
món tiền ông Phán cho hai chị em cô buổi sáng, nhưng Huy nhất định không chịu nhận,
nhường cả cho chị, lấy cớ rằng ở trong trường thì không cần gì đến tiền. Cô mỉm cười nói một
mình:
"Hai đồng bạc món này là tiền cuối cùng của họ hàng giúp ta".
Có tiếng còi húyt! Mai ngơ ngác hỏi người bán bánh:
- Chết! Tàu chạy rồi à, bác?
- Phải, chạy rồi!... Cô đi đâu?
- Tôi đi Thạch Lỗi.
Người kia cười:
- Ngỡ là gì! Thế thì còn sớm cháu. Ðấy là tàu Bắc đấy! Tàu Phúc Yên mãi một giờ năm mươi
mới chạy, chạy sau cùng.
Rồi vừa mở chiếc bánh giò vừa nằn nì:
- Cô xơi cho em chiếc bánh giò nhé? Bánh còn nóng nguyên, ngon lắm cô ạ.
Mai ôn tồn đáp:
- Tôi cám ơn cô, tôi vừa ăn cơm.
Bấy giờ phòng phát vé hạng tư càng tấp nập huyên náo. Người gồng gánh, kẻ bế bồng, kẻ dắt
díu. Trong số hành khách Mai thấy có nhiều người sang trọng, trong lòng lấy làm lạ. Vì Mai vẫn
yên trí rằng những bà vận áo nhung, áo mùi cùng là những âu phục rực rỡ như kia, thì không
bao giờ đi lẫn vào người nghèo khó như mình. Cảm tưởng ấy không những không an ủi được
Mai là đã được đứng ngang hàng với kẻ hơn mình trong khỏanh khắc, như nó có thể an ủi nhiều
người trong hạng bình dân, mà trái lại. Mai ngẫm nghĩ, thở dài, vơ vẫn tưởng đến những cảnh
gia đình sa sút. Là vì, liên tưởng xui nên, Mai ngắm cái cảnh rực rỡ với cái cảnh tồi tàn đứng
gần nhau, thốt nhiên những ý nghĩ trái ngược, so sánh xô đẩy nhau, vào trong tâm trí Mai, bắt
Mai không thể không nhớ tới những quãng đời đẹp tốt, sung sướng khi xưa.
Tiếng dập vé tí tách khiến Mai chợt nghĩ tới xe chạy, vội vàng cầm đồng bạc vào lấy vé.
Tuy thế mà vẫn còn sớm quá, Mai ra sân sau ga nhìn cái đồng hồ treo ở hiên thấy kim mới
trỏ hơn một giờ. Còn những nửa giờ xe mới chạy. Song Mai cũng hỏi thăm xe Phúc Yên lên ngồi
giữ chỗ.
Chiếc toa Mai chọn ở liền ngay toa hạng ba. Vì Huy có dặn chị rằng càng những toa ở về phía
sau, càng đỡ than khói. Mai tìm chỗ có mấy bà nhà quê ngồi nói chuyện cho vui. Cô biết rằng
ngồi đối diện với các bà tính tình chất phác ấy thì bao giờ cũng có chuyện. Như thế thì chắc sẽ
đỡ sốt ruột, đỡ phải nghĩ quanh nghĩ quẩn tới những việc đâu đâu.
Mai đoán quả không sai. Cô đương ngơ ngác nhìn tìm chỗ, thì một bà lão ngồi bên hai người
con gái cùng vận quần áo vài nâu, gọi cô mà bảo rằng:
- Này, cô lại đây ngồi cho vui.
Mai tươi cười nhận lời ngay.
Mấy người đương mãi chuyện trò huyên thuyên, nào về mùa màng, về buôn bán, nào về
phong cách Hà Nội, thì Mai bỗng để ý tới một chàng âu phục ở toa hạng ba vừa xuống đi đi lại
lại trước mắt cô.
Chàng đăm đăm nhìn cô khiến cô ngượng nghịu phải giả vò quay lại phía hai người con gái
ngồi bên, nói chuyện vơ vẫn. Bà lão mau mồm cười hỏi:
- Thầy muốn tìm chỗ phải không? Mời thầy ngồi đây, còn rộng chán.
Rồi bà ẩy Mai và hai người con gái về phía bên kia để xếp chỗ.
Chàng công tử bẽn lẽn trả lời:
- Thưa cụ, tôi cảm ơn cụ, tôi đi tìm người bán hàng mua gói thuốc lá.
Rồi chàng đi tuốt lên đâu toa hạng tư. Lúc trở về, chàng lại đứng sững nhìn Mai. Bà lão lấy
làm khó chịu hỏi rằng:
- Ông muốn hỏi gì?
Chàng kia ôn tồn trỏ Mai đáp lại:
- Thưa cụ, cô... đi với cụ...
- Phải, ông quen cô ấy hay sao?
- Vâng, tôi như có quen.
Mai xấu hổ, hai má đỏ ửng, cúi đầu ra ngoài nhìn xuống sân ga. Song thấy chàng kia nói có
quen mình nên vội quay lại liếc nhìn qua. Không nhận ra là ai, thì cô cho là người kia muốn
trêu ghẹo, lại còn bẽn lẽn lắm. Nhưng chàng công tử vẫn đứng trước mặt cô và đối với cô,
chàng không có chút gì là tỏ ra bộ dạng lẳng lơ, bỡn cợt, chàng lại gần se sẽ hỏi:
- Thưa cô, cô có phải là cô Mai, con cụ Tú Ninh Bắc không?
Mai ngước mắt lên nhìn rồi hỏi:
- Thưa ông, sao ông biết tôi?
Chàng kia cười:
- Thế ra cô quên tôi rồi? Tôi là Lộc...
Mai vui mừng hỏi:
- Cậu Lộc, con quan Huyện Kim Anh?
- Vâng, chính tôi là Lộc. Nhưng thầy tôi không làm tri huyện nữa đâu. Thầy tôi đã thăng đến
án sát và mất rồi.
- Khổ! Thế cậu bây giờ làm gì?
- Tôi làm Tham tá ở Hà Nội.
Mai cười:
- Chóng nhỉ. Mới ngày nào!
Lộc đỡ lời nói luôn:
- Ðã bẩy tám năm nay, cô còn bảo mới ngày nào.
Bẩy năm về trước, quan Huyện Ðông Anh có mời cụ Tú Lâm đến dạy hai cô con gái học chữ
nho. Bấy giờ cụ Tú gặp lúc quẫn bách vì luôn mấy năm buôn gỗ bị thua lỗ, cái vốn dăm sáu
nghìn đã gần khánh kiệt, nên thấy người bạn xưa muốn tìm cách giúp đỡ thì nhận lời ngay.
Cụ Tú lúc đó mới góa vợ nên đưa cả con cái lên huyện cho tiện đường dạy dỗ, còn Huy thì cũ
đã cho trọ học nhà ông Phán Hai ở Hà Nội.
Trong hai năm, mỗi lần nghỉ lễ, họăc nghỉ hè, Lộc về chơi nhà đều gặp Mai. Khi ấy Mai mới
mười một tuổi mà Lộc thì đã lớn, và theo học ở lớp ba trường Trung Học Tây.
Lộc coi Mai như một người em gái nhỏ, và yêu quý Mai lắm; mỗi lần ở Hà Nội về mua quà
cho hai em thức gì cũng mua cho em Mai thức ấy.
Mai nhẩm ôn lại chuyện xưa mủm mỉm cúi xuống nhìn guốc nói:
- Thế ra ông là anh Lộc của em đấy?
Mai cảm động buộc mồm nói ra câu quá thân mật. Cô thẹn thùng hỏi chữa luôn:
- Thưa ông, thế cô Lục và cô Thanh, nay ở đâu?
Lộc như hiểu ý nghĩ của Mai đáp lại:
- Thì cô cứ gọi là anh như xưa cũng được chứ sao. Em Lục lấy chồng đã vừa có cháu, em
Thanh thì hãy còn ở nhà mẹ tôi... Thế còn em..., còn cô, nay chắc cô cũng xuất giá rồi chứ? Ðấy
cô coi tôi cũng biết chữ nho đấy.
Mai thẹn không trả lời, Lộc nhắc lại câu hỏi:
- Thế nào, tôi hỏi cô đã có chồng chưa, sao cô lại không đáp/
- Thưa ông, em nghèo thế thì ai lấy.
- Thế sao tôi không nghèo mà cũng chưa ai thèm lấy tôi?
Mai nghe câu nói của Lộc có ý muốn ghẹo và hiểu ngay rằng ông anh thuở nhỏ, nay không
còn thể nhận là anh được nữa. Bởi thế, cô ngồi im, giữ nét mặt nghiêm trang, rồi quay ra nói
chuyện với bà cụ ngồi bên.
- Ngày trước, thầy tôi ngồi dạy học ở nhà cụ thân sinh ra quan đây.
Ngắm nghía Mai, Lộc sửng sốt hỏi:
- Vậy ra cụ Tú đã...
Lộc sợ lầm không dám nói dứt câu. Mai buồn rầu đáp:
- Vâng, thầy em mất rồi.
- Thương hại! Cụ Tú người hiền lành thông thái thế... Nhưng hình như cô còn một e...
Thông tin ebook
Phần Thứ Nhất
Ân Nhân
Bàn Việc Nhà
Bước Ðầu
Phần Thứ Hai
Tiểu Gia Ðình
Thú Thực
Mẹ Con
Hội Kiến
Cô Hàng Quà
Ông Thầy Thuốc
Thủ Tiết
Họa Sĩ
Phần Thứ Ba
Người Xưa
Một Bức Tranh
Hai Quan Niệm
Cháu Ái
Trên Ðồi
Bên Lò Sưởi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Phần Thứ Nhất
Một buổi chiều thứ bảy. Trường Bảo hộ đương ở trong cảnh nhộn nhịp. Tiếng giày, tiếng
guốc qua sân rất là huyên náo.
Trong những phòng khách nhà trường, cha mẹ học trò ngồi đợi lượt vào phòng ông phó đốc
để xin phép cho con ra. Tiếng nói chuyện ồn ào, nào ông hỏi thăm về việc học của con, nào bà
mắng con vì bị phải ở lại trong trường. Rồi từng bọn hoặc hai ba, hoặc bốn năm người cùng
nhau ra cổng trường gọi xe tay, hay chờ xe điện về phố.
Ðứng vơ vẫn bên hàng giậu giăng, một cô thiếu nữ vào trạc mười bảy mười tám, chít khăn
ngang vận áo trắng số gấu, chân đi guốc ngơ ngác nhìn sân trường, như muốn vào, nhưng dùng
dằng lo sợ. Nước da cô trắng xanh, quầng mắt đen sâu hoắm càng làm tăng vẻ rực rỡ long lanh
của hia con ngươi sáng dịu. Trong cái mặt trái Xoan, má hơi hóp, môi khô khan, chỉ có hai con
mắt là có vẻ hoạt động khác nào như hai ngôi sao lấp lánh sau làn mây mỏng. Thoáng trông cô,
cũng biết cô có điều tư lự.
Người canh cổng thấy cô thập thò ra dáng băn khoăn thì lên tiếng hỏi:
- Chị kia muốn gì?
Cô ấp úng:
- Thưa thầy, tôi... tôi...
Bác canh cổng lại quát:
- Cái gì?
- Thưa thầy... không ạ.
- Không thì đi, chứ đừng đó nhìn gì? Hay lại chờ cậu nào đấy? Guốc với ghiếc!
Cô thiếu nữ xấu hổ lui ra mấy bước rồi lại ngần ngừ dừng lại. Lúc bấy giờ, một cậu học trò độ
chín, mười tuổi, đứng sau hàng giậu vẩy cô. Cô rón rén đến gần, mắt lấm lét nhìn người canh
cổng. Qua kẽ giậu, cậu bé nói ra:
- Cô giúp tôi việc này nhé, cô nhé?
Thiếu nữ ngắm cậu bé quần áo lôi thôi, chân tay đầy mực thì đoán chắc rằng không phải con
nhà giàu có, bỗng đem lòng thương người có lẽ cùng ở trong một cảnh với mình. Cô dịu dàng
hỏi:
- Em muốn chị giúp điều gì vậy?
- Chị làm ơn xin phép cho tôi ra.
Cô buồn rầu:
- Nhưng chị xin phép sao được cho em ra?
- Ðược, chị cứ nhận tôi là em.
Cô thiếu nữ ngẫm nghĩ:
- Vậy xin phép ở đâu, em?
Cậu bé vui vẻ trỏ tay vào tòa nhà bên cạnh cổng:
- Ở phòng giấy ông phó đốc kia kìa.
Cô mỉm cười:
- Nhưng ông phó đốc biết chị nói dối mất.
- Không, mọi khi tôi vẫn nhờ người xin phép như thế đấy.
- Nhưng chị để trở đại tang, thì nhận em là em thế nào được?
Cô thấy cậu bé có ý buồn rầu thì ôn tồn an ủi:
- Thôi em bằng lòng vậy. Nhưng sao mẹ em không đến xin phép cho em?. Cậu bé trả lời:
- Mẹ tôi chết mất rồi. Còn cha tôi với dì tôi thì chả bao giờ đến xin phép cho tôi ra.
Thiếu nữ nghe câu trả lời, động lòng thương.
Cậu bé thất vọng, toan quay vào thì cô gọi lại nói:
- Bây giờ chị lại nhờ em một việc này nhé: Em có biết anh Dương Huy không?
- Không. Anh ấy học lớp nào?
- Học năm thứ ba.
- Cô muốn hỏi anh ấy à? Bảo bác canh cổng bác ấy tìm cho.
- Anh Huy là em chị. Chị muốn xin phép cho anh ấy ra.
- Vậy thì chị vào buồng ông phó đốc mà xin phép.
Cậu bé nói xong, cắm cổ chạy vào trong sân trường.
Cô thiếu nữ liền đánh bạo lại gần người canh cổng rồi nói se sẽ:
Thưa thầy, tôi muốn xin phép cho em tôi ra.
Bác canh cổng gắt:
- Sao ban nãy hỏi lại báo không có việc gì? Vậy vào nhà ông phó đốc kia kìa. Mau lên! Sắp hết
giờ rồi.
Cô thiếu nữ mừng quýnh, hấp tấp chạy tới chỗ người canh cổng vừa trỏ. Trong phòng khách
không còn ai. Cô nhìn trước nhìn sau sợ hãi, không dám lên tiếng, rồi vơ vẫn đứng ngắm những
tranh vẽ treo trên tường. Cô giật mình quay đầu lại, vì vừa nghe có tiếng giày ở sau lưng. Một
người thư ký hất hàm hỏi:
- Ðến có việc gì?
Cô cất giọng run run, sẽ đáp lại:
- Bẩm thầy, tôi đến xin phép cho em Huy.
- Cậu Huy học lớp nào?
- Bẩm năm thứ ba.
- Cô là ai?
- Bẩm thầy tôi là, Dương thị Mai.
Thầy thư ký mỉm cười:
- Không, tôi không cần biết tên tuổi cô, tôi chỉ hỏi cô là bà con gì với cậu Huy mà đến xin
phép cho cậu ấy?
- Bẩm thầy, tôi là chị.
- Vậy cô vào đây.
Thầy thư kí đưa Mai vào buồng bên cạnh trỏ ghế bảo ngồi đợi. Ông phó đốc đương viết ở
bàn giấy, nghe tiếng thì thào liền ngẩng đầu lên hỏi thầy thư ký. Mai đứng đăm đăm nhìn hai
người nói chuyện nhỏ với nhau bằng tiếng Pháp, trong lòng chỉ ngay ngáy không xin được
phép. Bỗng thấy thư ký gọi Mai lại bảo:
- Quan phó đốc truyền đáng lẽ Dương Huy bị đuổi rồi vì chưa trả tiền ăn tháng giêng và
tháng hai, tuy đã gửi hai lần giấy đòi, nhưng quan lớn thương Huy là học trò giỏi trong lớp nên
còn dung thứ cho. Vậy thế nào từ nay cho đến cuối tháng cũng phải đem tiền đến trả.
Mai ấp úng:
- Bẩm quan lớn thương tình chúng con mồ côi cha mẹ.
- Nhà nước đã miễn cho học phí còn kêu gì nữa! Vậy cô có đem tiền ăn nộp cho cậu Huy đấy
không.
- Bẩm quan lớn con xin khất đến cuối tháng.
- Ấy, sai hẹn thì em cô thể nào cũng bị đuổi đấy nhé, hiểu chưa?
- Xin vâng.
- Thế bây giờ cô xin phép cho cậu Huy ra chứ?
- Vâng.
- Sao người thay mặt cha mẹ cậu Huy không đến?
Mai lo sợ, run lập cập không nói ra lời. Ông phó đốc trông thấy, lấy làm thương hại, bảo thầy
thư ký:
- Thôi, cho phép người ta.
Thầy thư ký liền quan lại bảo Mai:
- Quan lớn cho phép đấy.
Mai mừng chảy nước mắt, chấp tay vái dài, rồi theo thầy thư ký ra phòng khách. Thầy ra sân
báo một anh thợ chạy giấy đi tìm Dương Huy.
Mười phút sau, một cậu trẻ tuổi vào phòng, y phục và tướng mạo từa tựa giống Mai. Nhất là
cặp mắt sáng quắc của hai người thực hệt như đúc, khiến ai mới thoạt trông cũng biết ngay hai
người thiếu niên ấy là chị em ruột. Gặp chị, Huy mừng quýnh vội kêu:
- Chị!
Mai cũng chạy lại.
- Em!
Rồi hai người đứng sững như nghẹn lời, hai cặp mắt nhìn nhau, nhỏ lệ, Huy cười gượng bảo
chị.
- Xa xôi thế mà chị cũng về thăm em được.
- Chị về...
Mai chỉ ứa hai dòng nước mắt không nói nên lời. Huy an ủi chị:
- Chị chả nên buồn, ở trên đời em có chị, chị có em, không đủ vui sao?
Mai mỉm cười:
- Không, chị có buồn đâu, chị gặp em, chị mừng quá, chị sung sướng quá. Chị về xin phép cho
em ra chơi nhà bác...
Mai nói luôn như để giấu sự cảm động, giấu sự ưu phiền:
- Vậy em đi thay quần áo để ra phố với chị.
- Chị đã...
Huy không dám nói dứt câu. Nhưng Mai trả lời luôn, như đã đoán được tư tưởng của em:
- Ðã, chị đã nộp tiền ăn cho em rồi.
Huy có ý không tin:
- Sao chị có tiền? Hay chị lại vay đằng bác Phán đấy?
- Không mà.
- Chị cứ giấu em mãi. Chị còn làm gì ra tiền. Còn như nhờ vào bác Phán thì em không muốn.
Bác lương tháng có bảy tám chục mà các anh chị thì đông. Mình chả nên quấy quả. Vả ta lại
phải biết lập thân chứ cứ nương tựa vào họ hàng thân thích thì em lấy làm xấuhổ lắm.
- Nhưng chị có nhờ ai đâu?
Mà nào có trông cậy vào ai được đâu mà hòng nhờ! Chị không nhớ ngày mẹ mất, bác Phán
có giúp đỡ được đồng nào. Lại suốt một năm thầy ốm trước khi qua đời thì họ hàng đã cưu
mang cho được một xu nhỏ.
- Em kể lể lôi thôi lắm.
- Không phải em lôi thôi, em chỉ cốt can chị đừng tưởng nhớ đến sự nhờ vả bác Phán làm gì.
Em học được thế này cũng đã may mắn cho em lắm rồi, mà có lẽ em cũng đủ chữ đi kiếm tiền
để nuôi chị, nuôi em. Chị em ta chỉ nên tự lập lấy thân là hơn.
- Không được. Em nghĩ thế thì nhầm to, khi thầy lâm chung, thầy dối dăng những gì em còn
nhớ không?
Câu hỏi của chị như gợi sự đau đớn ở trong lòng Huy, như vẽ ra một bức tranh bi thảm.
Hồi đó về cuối thu. Cụ Tú Lãm nằm ở giường bệnh người gầy xọp chỉ còn nắm xương da bọc.
Nhất là bộ mặt hốc hác, mắt sâu hoắm, má lõm xuống chẳng khác gì một cái đầu lâu.
Ðêm khuya, gió lạnh vù vù thổi lọt qua khe cửa bức màn. Ngọn đèn dầu hỏa chiếu ánh sáng
rung rinh lờ mờ vào những đôi câu đối sơn đen, sơn đỏ treo ở cột, ở tường. Sau bức màn che
trắng, bài vị bà Tú đặt trên cái ngai sơn son thiếp vàng. Trên bàn thợ bộ thất sự bằng đồng
trông ẩn lộ như trong tấm hình chụp không được rõ.
Cạnh chiếc hỏa lò than xoan đỏ ối, lách tách nổ liên thanh. Mai quì bên giường, hai tay nắm
bàn tay khô khan của cha già, như cố giữ người ốm lại không cho rời sang thế giới bên kia. Còn
Huy thì ngồi ở cái ghế gỗ bưng mặt khóc, thỉnh thoảng lại gọi:
- Chị ơi, thầy có việc gì không, chị?
Mai cũng nức nở khóc không trả lời.
Cụ Tú hơi thở chỉ còn thoi thóp, dùng hết sức thừa nắm chặt lấy tay con gái. Mai biết rằng cụ
muốn dặn một lời cuối cùng, liền ghé lại gần hỏi:
- Thưa cha, cha dạy con điều gì?
Huy cũng làm theo chị, đứng dậy cúi đầu gần sát mặt người sắp từ trần, để nhận lấy những
lời giáo huấn tối hậu. Cụ Tú sẽ động môi thì thầm:
- Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ
can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha. Cha vui đến giờ cuối cùng.
Cha hy vọng thế nào các con cũng làm vẻ vang cha, cho linh hồn cha ở nơi chín suối. Cha hy
vọng thế nào em Huy cũng được thành tài và trở nên một người hữu dụng cho xã hội. Cha mất
đi còn của cải gì để lại cho hai con. Cha chỉ có ba thứ gia bảo này ông cha để lại cho cha, nay cha
truyền lại cho hai con mà thôi. Là giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch, và đem hết nghị lực ra
làm việc.
Sức cụ Tú chỉ còn được đến thế. Nói dứt mấy câu tâm phúc, cụ thiêm thiếp dần dần.
Bên ngoài, gió vẫn thổi vù vù, hạt mưa lốp đốp trên mái ngói. Văng vẳng ở xóm xa tiếng chó
sủa đêm...
Trong khoảng mấy giây đồng hồ cái mẩu đời dĩ vãng chạy qua trí nhớ Huy như bức tranh in
loáng trên tấm kính ảnh.
Cậu đứng ngẫm nghĩ. Tiếng chị nhắc lại câu hỏi khiến cậu giật mình ngơ ngác.
- Em còn nhớ không?
Huy se sẽ trả lời:
- Em nhớ... Em nhớ lắm. Em nhớ nên em quả quyết đem hết nghị lực ra làm việc.
- Nghĩa là bây giờ em phải học đã.
Huy thở dài:
- Học? Nhưng tiền?
Mai gượng cười nói cứng cáp:
- Tiền, đã có chị, em đừng lo.
Mai buột mồm nói ra câu đó, rồi chính Mai lại lấy làm lo. Huy như hiểu thấy được ý tưởng
của chị, mỉm cười bảo Mai:
- Chị làm như chị có tài quỉ thuật hóa phép ra tiền được. Ðồn mấy năm thấy bán buôn thua
lỗ, lại còn tiền thang, vườn ruộng khánh kiệt, của cải khánh kiệt chị giấu sao được em?
- Hết vườn ruộng thì ta bán nhà để kiếm ít vốn buôn. Làm gì lại không đủ tiền cho em ăn
học. Em cứ yên tâm.
Huy vội gạt:
- Không được chị ạ. Chị cứ để em thôi học ra xin việc làm ở các nhà buôn còn hơn. Em không
muốn vì em mà chị phải ngược xuôi vất vả.
Mai cười:
- Thế thì em nhầm: chị chỉ muốn vì em đem hết nghị lực ra làm việc như lời thầy dạy đấy
thôi.
Lúc bấy giờ có tiếng kẹt cửa. Thầy thư ký ở buồng ông phó đốc bước vào. Hai chị em cùng
quay lại, thầy thư ký cất giọng gắt:
- Chưa về còn đứng đó làm gì thế?
Hai chị em ra đến cổng trường. Huy ngần ngừ bảo chị:
- Hay chị để em ở trong trường thôi.
Mai buồn rầu nhìn em nói:
- Mấy chị khi về thăm em được. Em chịu khó một tý.
Huy có dáng nghĩ ngợi:
- Vâng thì em ra. Lâu nay em không gặp chị, em nhớ lắm. Em chỉ ước ao được cùng chị nói
chuyện thực lâu để ôn lại cái thời còn nhỏ của chúng ta khi xưa, khi còn thầy còn mẹ...
Mai nhìn, cặp mi hơi cau, như muốn bảo em đừng nhắc tới câu chuyện buồn làm gì. Huy nói
luôn:
- Nhưng em chỉ sợ...
Thấy Huy ngần ngại không nói dứt câu. Mai tươi cười hỏi:
- Em có điều gì?
- Trông các anh chị ấy, em ngượng lắm.
- Việc gì mà em ngượng. Bác Phán đối với thầy tuy là một người anh họ, nhưng chị coi cách
cư xử đối với chị em ta cũng cần lắm, chỉ vì chả được giàu có gì, nên bác không giúp đỡ được
chị em ta trong khi túng bần đó thôi.
Hai chị em đi bên cạnh nhau trên con đường Quan Thánh, nét mặt rầu rầu. Nước da trắng
xanh phản chiếu màu lá xanh của rặng sấu bên đường lại càng xanh, lại càng lộ vẻ gầy yếu của
đôi khổ mặt xương. Huy nhìn chị, có ý lo ngại:
- Chị độ này gầy lắm.
Mai cười:
- Thì em cũng chẳng béo với ai! Chị tuy gầy nhưng chị còn hơn em. Ai lại con giai mà mới đi
một quãng đường đã thở hồng hộc.
Huy có lẽ cốt để chị khỏi buồn nên tươi cười nói:
- Không chị ạ, em vẫn khỏe đấy, chỉ vì sáng nay em uống thuốc tẩy nên hơi mệt đó thôi. Ðến
mai, em lại mạnh như thường.
Mai sợ hãi, vội hỏi:
- Giời ơi! Sao em phải tẩy thế? Có việc gì không?
- Khổ? Hơi một tý thì chị sợ cuống lên. Người ta tẩy là thường chứ.
Rồi nói lảng sang chuyện khác, Huy trỏ hồ Tây bảo chị.
- Chị trông cảnh hồ Tây lúc mặt trời lặn có đẹp không kia.
Mai sực nghĩ ra câu chuyện được nghe từ ngày còn nhỏ, nhìn hồ hỏi em:
- Có phải hồ này ăn sang bên Tàu không em?
Huy cười:
- Ngày xưa thì nó ăn sang bên Tàu thực đấy chị ạ, nhưng bây giờ có con đê Yên Phụ ngăn nó
với sông Nhị Hà thì nó không ăn sang bên Tàu nữa.
- Nào chị có biết đâu! Chị thấy người ta kể chuyện. Ðức Khổng Minh Không sang Tàu lấy
đồng ở kho về đúc cái chuông khổng lồ. Khi đánh chuông, con hươu vàng nó tưởng mẹ nói gọi,
nó chạy sang ta. Rồi đến đây khi trước làrừng, nó tìm kiếm mẹ nó không thấy, liền phá phách
trũng xuống thành hồ.
- Huy bản tính không ưa những sự huyền hoặc. Hễ nghe ai kể những câu chuyện hoang
đường thì bao giờ cũng cười vang, cũng chế riễu. Thế mà lần này, nghe câu chuyện hưu vàng
của chị, cậu không những không cười mà lại còn lắng tai, chú ý, và có vẻ cảm động lắm. Cậu lờ
đờ đưa mắt nhìn quanh hồ một vòng như theo lối đi của con hươu mất mẹ, rồi khôi hài bảo
Mai:
- Vì nó không có chị.
Mai không hiểu, ngơ ngác hỏi:
- Em nói ai?
- Em nói con hươu vàng của chị. Nếu nó còn chị ở trên đời thì chẳng phải chạy đến tận nơi
chân trời để tìm mẹ nó có lẽ đã chết rồi.
Câu nói của Huy khiến Mai sung sướng chảy nước mắt, đứng đâm đâm nhìn em cười mà
không nói.
Huy thấy Mai cười thì cũng cười, rồi bảo chị.
- Ta đứng chờ xe điện, chị ạ.
- Chúng ta đi bộ có hơn không em? Ðỡ được một hào mà lại khỏe người. Ban nãy từ nhà bác
Phán lên trường, chị cũng đi bộ đấy.
- Trời ơi! Chị đi bộ từ phố chợ Hôm lên trường. Sao chị biết đường?
- Bác Phán bảo cứ theo đường xe điện mà đi.
Huy nghe chị nói lấy làm thương, ngỡ rằng chị trong túi dễ không còn xu nào để đi xe. Cậu
liền giả vờ kêu mệt không đi được nữa và nói với chị hãy dừng chân ngồi nghỉ ở tam quan đến
Trấn Võ. Vẻ lo sợ lộ trên nét mặt Mai. Cô buồn rầu bảo em:
- Có lẽ em phải uống thuốc bổ mới được.
Huy hối hận rằng đã làm cho chị kinh hãi, liền cười sằn sặc rồi an ủi chị:
- Em đùa đấy! Em không mệt mà cũng không sao cả. Chỉ vì em giàu lắm, nên muốn thết chị
một cái vé xe điện đó thôi.
- Em làm gì mà giàu thế?
- Em chả làm gì cả, nhưng em vừa có đồng bạc.
- Ai cho em đây?
- Một người bạn nghèo hơn chị em mình.
Mai có ý không bằng lòng:
- Sao em lại thế? Ðến bác Phán em còn chả muốn nhờ, mà nay lại nhận tiền của một người
bạn nghèo.
- Vâng, chị mắng em rất phải. Nhưng hãy để em kể đầu đuôi câu chuyện cho chị nghe đã nào!
Trong lớp em có một anh tên là Trọng. Anh nghèo nhưng không phải vì nghèo mà không ai
thèm chơi với anh. Họ xa anh chỉ vì anh là con nhà hèn hạ. Cha mẹ anh làm nghề bán hàng
rong.
- Ðấy em coi, bán hàng rong mà cũng đủ tiền nuôi con đi học đấy!
- Thưa chị, bán hàng rong thì tất nhiên là nuôi thân cũng chẳng xong... Người chị tốt lắm,
thương Trọng, yêu quý Trọng như một người mẹ âu yếm con. Thứ năm chủ nhật nào cũng
mang quà bánh vào thăm em. Mà thương hại! Lần nào vào thăm em cũng lần lút như kẻ cắp,
không dám để ai biết, ấy chỉ vì người chị mà anh em bạn học không ai thèm chơi với Trọng.
Mai cảm động:
- Khốn nạn? Sao thế em?
- Vì chị Diên, tên chị ấy là Diên, vì chị Diên làm... Huy ngập ngừng không nói được dứt câu,
như không tìm được, hay không dám nói đến tên cái nghề mà Diên đương lăn lóc để kiếm tiền
nuôi em ăn học, Mai đưa vạt áo lên lau nước mắt, trả lời em:
- Thôi! Chị hiểu rồi. Chị chỉ biết cô Diên là một người đáng thương.
- Mà thực tế, chị ạ, chị ấy tốt lắm, không những thương Trọng, mà còn đem lòng thương
chung cả những người khốn khổ ở trên đời... Em vẫn ái ngại cho chị ấy là người thông minh, có
nhan sắc mà sao lại bị sa vào cái cảnh bùn lầy như vậy. Lần nào chị ấy vào thăm Trọng. Trọng
cũng rủ em đến cùng ngồi nói chuyện. Có lần chị Diên chẳng giấu giếm, kể cho em nghe hết
những nỗi khổ sở của một đời giang hồ. Chị ấy kính mến em lắm, còn em thì đối với chị ấy bao
giờ cũng chỉ có những lời an ủi.
Mai có dáng nghĩ ngợi, lo lắng:
- Thế năm nay cô Diên bao nhiêu tuổi?
- Năm nay chị ấy đã ngoài ba mươi, nhưng trang điểm vào trông còn trẻ lắm. Thứ năm
trước, chị ấy hớn hở vui cười, vào thăm Trọng, em nói đùa: "Hôm nay trông chị trẻ như con gái
mười tám". Chị ấy cũng cười nói đùa lại: "Thế mà chị băm hai rồi đấy!" Chị Diên nói buông lời
thì buồn rầu xin lỗi em ngay: "Chết chửa! Cậu tha thức cho tôi nhé. Lắm lúc tôi điên rồ cứ coi
cậu như em Trọng". Em cười, đáp lại: "Thì chị là chị anh Trọng cũng như chị em chứ gì!" Câu
trả lời của em khiến chị Diên rơm rớm nước mắt thở dài. Chắc chị ấy tưởng đến lòng khinh bỉ
của bọn anh em bạn học của Trọng đối với chị em ấy hẳn. Rồi chị ấy mở ví đưa cho Trọng và
em mỗi người một đồng bạc, nói để lấy tiền ăn quà. Em từ chối thế nào cũng không được. Lại
thêm Trọng cứ nằn nì nói mãi, nên em nể lời phải nhận cho chị em chị ấy vui lòng. Vả xưa kia,
em giúp Trọng như thế là thương.
Mai ngồi nghe câu chuyện cảm động không nói.
Buổi chiều mùa xuân hạt mưa lấm tấm, bao phủ hồ Tây bát ngát mênh mông. Con thuyền
nan của khách chơi xuân rập rờn trên mặt nước. Cơn gió may thoảng đưa, mấy chiếc lá vàng
rơi lác đác. Mai ngước mắt nhìn lên, búp xuân non mơn mởn đầy cành. Cái cảm tưởng về xuân
dịu dàng êm ái, khiến Mai hé cặp môi tươi thắm, mỉm cười với xuân, trong lòng chứa cha hy
vọng.
Mấy tiếng "keng... keng" gọi khách của xe điện... Mai giật mình. Giấc mộng tan, mà hy vọng
cũng tan... Hai chị em cùng lên xe về nhà.
Về đến nhà ông Phán Hai thì gặp giữa lúc ông bà đương có khách. Chị em Huy ra chào, ông
bà chỉ sẽ gật rồi lạnh lùng bảo vào nhà trong. Cái tính lãnh đạm của ông Phán, Huy cho là một
tính tự nhiên, nên cũng không cho là bị hất hủi, cậu vui cười vái chào một lần nữa, rồi cùng chị
vào nhà trong.
Ngồi chung quanh một cái bàn vuông năm người, ba cô con gái suýt soát tuổi Mai và hai cậu
con trai nhỏ vừa bắt đầu ăn cơm. Nhác thấy chị em Mai, cô Liên, cô lớn tuổi nhất đặt đũa xuống
bàn, chào.
- Kìa, cậu Huy đã ở trường ra. Chúng tôi chờ mãi!
Huy tươi cười:
- Mời các chị, các anh xơi cơm đi. Hai bác chưa xơi cơm à?
- Hai bác còn chờ ăn cơm với khách.
Liên đứng dậy gọi sen lấy thêm bát đũa, mời Mai và Huy cùng ngồi ăn. Hai chị em chỉ ăn cho
xong bữa, chứ chẳng chuyện trò gì, vì hình như có một làn không khí lãnh đạm đương bao bọc
lấy cái bàn, Mai ngắm ba chị em con ông Phán từ cử chỉ cho chí ngôn ngữ đối với mình không
có chút thân mật, nên họ hỏi câu nào chị trả lời cho qua quýt mà thôi. Còn Huy thì bản tính vẫn
vui đùa đấy, nhưng lần này trí nghĩ bận loay hoay đến vấn đề tiền ăn học nên cậu có vẻ tư lự
phiền muộn.
Ðêm hôm ấy ở nhà ngoài, chủ khách đánh đổ tôm. Ở nhà trong mọi người đều đã yên giấc,
trừ chỉ Mai là còn thức. Hai chị em xa cách nhau lâu ngày, có biết bao chuyện kể cho nhau nghe,
hết chuyện dĩ vãng, đến chuyện hiện tại sang chuyện tương lai. Luôn luôn những tính tình và
cảm tưởng buồn, vui kế tiếp nhau xô đẩy nhau ở trong tâm trí hai người. Nhưng đối với cài
tuổi thiếu niên chứa chan hy vọng, lại thêm có sức tưởng tượng rất dễ dàng, thì con đường
tương lai chỉ là một con đường trong vườn hoa tươi thắm dưới ánh sáng trong trẻo trời xuân.
Nên cái vui bao giờ cũng thắng nổi cái buồn.
Có lúc hai chị em ngồi yên lặng cùng mỉm cười trong đêm tối. Cái hạnh phúc vẫn vơ, mơ
màng hình như đương làm rung động hai tấm lòng son mà không ai có thể nói cho ai biết,
không ai có thể tả cho ai hay, không ai dám cất tiếng, sợ cái hạnh phúc đương âm thầm trong
tâm trí nó vụt bay đi mất, nó bay vụt vào cảnh mộng, như con chim vành khuyên thấy tiếng
động bay ẩn vào trong bụi rậm um tùm.
Vì chính lúc ấy Mai đương mơ mộng... Mai thấy em thi đậu... nổi tiếng giàu có sang trọng...
Còn Mai? Nào Mai có kịp tưởng đến Mai... Mai chỉ có cái cảm giác lờ mờ rằng suốt đời Mai được
ở bên cạnh em, săn sóc trông nom em như một người vú già...
Mai nghĩ đến chữ "già" thì Mai lại mỉm cười vơ vẫn. Không! Mai không già... Mai trẻ lắm...
mới mười chín cái xuân xanh... Mai cũng biết Mai trẻ, Mai đẹp... chỉ ngẩm cái nét mặt khinh
khỉnh của mấy chị em con bác Phán, Mai cũng đủ hiểu rằng Mai đẹp... Mai lại nhớ ở trên xe hỏa,
có một công tử vận tây đã lưu ý đến Mai, làm Mai phải bẽn lẽn cúi mặt.
- Chị!
Tiếng Huy gọi khiến Mai tỉnh choàng giấc mộng.
- Em bảo gì?
- Chị cứ để em thôi học, đi kiếm việc...
- Không được. Nhất định chị không để em bỏ học. Chị đã suy tính đâu ra đấy cả rồi, chị về
bán nhà và đất ở, thế nào cũng được ít ra là bốn năm trăm. Rồi chị em thuê cái nhà nhỏ ở trong
làng Bưởi, chị đã hỏi thăm rồi, chỉ độ ba đồng một tháng thôi. Em đi học còn chị, chị tìm cách
buôn bán, hoặc bán rau, bán đậu, hoặc bán hoa quả. Như thế, không những đủ chi dụng mà lại
có tiền để dành nữa kia.
Huy tươi cười đáp lại:
- Chị nghĩ thế, em lại nghĩ khác. Sang năm hết trở, thế nào bên cụ Chánh...
Mai cười ngặt nghẽo khiến cô Liên thức giấc chép miệng thở dài, càu nhàu, rồi Mai thì thầm
với Huy:
- Em ơi, con ông Chánh đã lấy con ông Hàn làng Yên Ninh rồi. Chứ chị mồ côi, mồ cút lại
nghèo nàn thế này thì ai thèm lấy. Huy có dáng bực tức:
- Thế ra họ bội hôn, bội ước rồi đấy!
- Em coi đó, giời cũng giúp cho giấc mộng của chị được thành sự thật nhé.
Mai ngẫm nghĩ một lát, lại nói:
- Chị cũng biết bán nhà đi thế là làm mất chỗ thờ phượng cha mẹ, nhưng sau này em làm
nên, về chuộc lại, lo gì. Và dưới suối vàng, cha mẹ cũng hiểu thấu nỗi lòng cho chị em ta.
Huy cho rằng những lẽ chị không được ổn thỏa, nhưng biết lòng chị đương đau đớn vì nhiều
uất ức, nên thương hại không dám cãi lý nữa, chỉ yên tĩnh ngồi nghe, như đứa con ngoan ngoãn
ngồi nghe lời mẹ dạy.
Ðồng hồ trên tường dè dè buông hai tiếng. Huy giật mình buồn rầu nghĩ tới cái thời gian
hiện tại, dịu dàng bảo chị:
- Thôi, tùy chị tự ý định liệu. Chị làm thế nào cho chúng ta có thể không bước chân tới nhà
bác Phán nữa là hơn hết.
- Chị cũng tưởng thế. Nhưng bây giờ khuya rồi em đi nghỉ thôi.
Huy liền từ biệt chị, ra ngủ ở nhà ngoài.
Ân Nhân
Khi ra tới nhà ga Hà Nội. Mai ngước mắt nhìn lên cái đồng hồ to tướng, to bằng cái mặt
nguyệt chùa làng Mai, thì hai cái kim đen nháy mới trỏ 12 giờ trưa. Mà mãi 1 giờ 50 mới có xe
hỏa đi Phúc Yên. Trước khi từ biệt chị, Huy đã mở cuốn sổ tay có bảng giờ xe chạy ra xem và
dặn chị kỹ càng. Nhưng vì Mai chẳng biết làm gì, nên cũng hỏi đường, thủng thẳng đi bộ ra ga
cho có việc và khuây nỗi buồn bực.
Mai buồn thực, buồn lắm, vì ban nãy, khi lên chào hai bác, xin phép tiễn em vào trường, rồi
ra ga về quê, Mai đã được nghe hai bác nói nhiều câu làm khổ tâm cho Mai. Nào những: "Không
có tiền thì học với hành gì? " Nào những "con gái nhớn thế kia, mà dám một mình dẫn thân đi
Hà Nội". Rồi bà phàn nàn, bà Phán dỗ Mai ở đây với bà để làm bầu bạn cùng các chị cho vui. Rồi
ông Phán khuyên Huy hãy tạm nghỉ học, ở đây dạy các anh để chờ kỳ thi trợ giáo, hoặc thừa
phái...
Huy tính nóng nảy trả lời ra giọng không bằng lòng:
- Thưa hai bác, cứ để chúng cháu tự lập lấy thân.
Bác Phán cười gằn:
- Ừ, thì tự lập lấy thân.
Còn Mai nghe lời hai bác, Mai chỉ đứng ngẫm nghĩ suy xét... Cô trông thấy rõ ràng con đườg
mà ông Phán định tâm hay là không chú ý muốn đưa hai chị em cô đi qua. Theo tưởng tượng
của cô, thì con đường ấy bao giờ cũng chỉ tới một cái đích chắc chắn: Suốt đời làm nô lệ. Cô đã
thấy ở làng cô biết bao cháu gái vì nghèo mà trở nên đầy tớ nhà bác, nhà chú, nhà cô, nhà dì.
Song cô chỉ mỉm cười, cố giữ nét mặt tươi tỉnh, ôn tồn đáp lại:
- Chúng cháu vẫn biết hai bác thương chúng cháu lắm. Vậy chúng cháu xin phép hai bác về
quê thu xếp công việc rồi chúng cháu xin tuân theo lời hai bác.
Rồi cô nhách một nụ cười cúi chào cáo biệt.
Cái nụ cười ấy vẫn còn ở cặp môi cô, khi cô đứng ở hiên ga hạng tư chờ giờ xe chạy. Những
điều cô bàn định tối qua với em, những điều suy tính lại với em khi đi đường từ nhà lên trường
sáng hôm nay, khiến cô chứa chan hy vọng... Cô mãi nghĩ đến công nọ, việc kia là xếp sẵn trong
trí cái đời lý tưởng, đến nỗi không lưu ý đến cảnh rộn rịp của nhà ga trước giờ xe chạy.
Bỗng Mai giật mình quay lại. Một người con gái bán bánh và trầu nước, đặt phịch cái thùng
xuống thềm mời cô:
- Cô xơi bánh giò nhé?
Mai lắc đầu từ chối, cô nhớ đến số tiền trong túi tất cả cơ nghiệp còn hai đồng bạc. Ðó là
món tiền ông Phán cho hai chị em cô buổi sáng, nhưng Huy nhất định không chịu nhận,
nhường cả cho chị, lấy cớ rằng ở trong trường thì không cần gì đến tiền. Cô mỉm cười nói một
mình:
"Hai đồng bạc món này là tiền cuối cùng của họ hàng giúp ta".
Có tiếng còi húyt! Mai ngơ ngác hỏi người bán bánh:
- Chết! Tàu chạy rồi à, bác?
- Phải, chạy rồi!... Cô đi đâu?
- Tôi đi Thạch Lỗi.
Người kia cười:
- Ngỡ là gì! Thế thì còn sớm cháu. Ðấy là tàu Bắc đấy! Tàu Phúc Yên mãi một giờ năm mươi
mới chạy, chạy sau cùng.
Rồi vừa mở chiếc bánh giò vừa nằn nì:
- Cô xơi cho em chiếc bánh giò nhé? Bánh còn nóng nguyên, ngon lắm cô ạ.
Mai ôn tồn đáp:
- Tôi cám ơn cô, tôi vừa ăn cơm.
Bấy giờ phòng phát vé hạng tư càng tấp nập huyên náo. Người gồng gánh, kẻ bế bồng, kẻ dắt
díu. Trong số hành khách Mai thấy có nhiều người sang trọng, trong lòng lấy làm lạ. Vì Mai vẫn
yên trí rằng những bà vận áo nhung, áo mùi cùng là những âu phục rực rỡ như kia, thì không
bao giờ đi lẫn vào người nghèo khó như mình. Cảm tưởng ấy không những không an ủi được
Mai là đã được đứng ngang hàng với kẻ hơn mình trong khỏanh khắc, như nó có thể an ủi nhiều
người trong hạng bình dân, mà trái lại. Mai ngẫm nghĩ, thở dài, vơ vẫn tưởng đến những cảnh
gia đình sa sút. Là vì, liên tưởng xui nên, Mai ngắm cái cảnh rực rỡ với cái cảnh tồi tàn đứng
gần nhau, thốt nhiên những ý nghĩ trái ngược, so sánh xô đẩy nhau, vào trong tâm trí Mai, bắt
Mai không thể không nhớ tới những quãng đời đẹp tốt, sung sướng khi xưa.
Tiếng dập vé tí tách khiến Mai chợt nghĩ tới xe chạy, vội vàng cầm đồng bạc vào lấy vé.
Tuy thế mà vẫn còn sớm quá, Mai ra sân sau ga nhìn cái đồng hồ treo ở hiên thấy kim mới
trỏ hơn một giờ. Còn những nửa giờ xe mới chạy. Song Mai cũng hỏi thăm xe Phúc Yên lên ngồi
giữ chỗ.
Chiếc toa Mai chọn ở liền ngay toa hạng ba. Vì Huy có dặn chị rằng càng những toa ở về phía
sau, càng đỡ than khói. Mai tìm chỗ có mấy bà nhà quê ngồi nói chuyện cho vui. Cô biết rằng
ngồi đối diện với các bà tính tình chất phác ấy thì bao giờ cũng có chuyện. Như thế thì chắc sẽ
đỡ sốt ruột, đỡ phải nghĩ quanh nghĩ quẩn tới những việc đâu đâu.
Mai đoán quả không sai. Cô đương ngơ ngác nhìn tìm chỗ, thì một bà lão ngồi bên hai người
con gái cùng vận quần áo vài nâu, gọi cô mà bảo rằng:
- Này, cô lại đây ngồi cho vui.
Mai tươi cười nhận lời ngay.
Mấy người đương mãi chuyện trò huyên thuyên, nào về mùa màng, về buôn bán, nào về
phong cách Hà Nội, thì Mai bỗng để ý tới một chàng âu phục ở toa hạng ba vừa xuống đi đi lại
lại trước mắt cô.
Chàng đăm đăm nhìn cô khiến cô ngượng nghịu phải giả vò quay lại phía hai người con gái
ngồi bên, nói chuyện vơ vẫn. Bà lão mau mồm cười hỏi:
- Thầy muốn tìm chỗ phải không? Mời thầy ngồi đây, còn rộng chán.
Rồi bà ẩy Mai và hai người con gái về phía bên kia để xếp chỗ.
Chàng công tử bẽn lẽn trả lời:
- Thưa cụ, tôi cảm ơn cụ, tôi đi tìm người bán hàng mua gói thuốc lá.
Rồi chàng đi tuốt lên đâu toa hạng tư. Lúc trở về, chàng lại đứng sững nhìn Mai. Bà lão lấy
làm khó chịu hỏi rằng:
- Ông muốn hỏi gì?
Chàng kia ôn tồn trỏ Mai đáp lại:
- Thưa cụ, cô... đi với cụ...
- Phải, ông quen cô ấy hay sao?
- Vâng, tôi như có quen.
Mai xấu hổ, hai má đỏ ửng, cúi đầu ra ngoài nhìn xuống sân ga. Song thấy chàng kia nói có
quen mình nên vội quay lại liếc nhìn qua. Không nhận ra là ai, thì cô cho là người kia muốn
trêu ghẹo, lại còn bẽn lẽn lắm. Nhưng chàng công tử vẫn đứng trước mặt cô và đối với cô,
chàng không có chút gì là tỏ ra bộ dạng lẳng lơ, bỡn cợt, chàng lại gần se sẽ hỏi:
- Thưa cô, cô có phải là cô Mai, con cụ Tú Ninh Bắc không?
Mai ngước mắt lên nhìn rồi hỏi:
- Thưa ông, sao ông biết tôi?
Chàng kia cười:
- Thế ra cô quên tôi rồi? Tôi là Lộc...
Mai vui mừng hỏi:
- Cậu Lộc, con quan Huyện Kim Anh?
- Vâng, chính tôi là Lộc. Nhưng thầy tôi không làm tri huyện nữa đâu. Thầy tôi đã thăng đến
án sát và mất rồi.
- Khổ! Thế cậu bây giờ làm gì?
- Tôi làm Tham tá ở Hà Nội.
Mai cười:
- Chóng nhỉ. Mới ngày nào!
Lộc đỡ lời nói luôn:
- Ðã bẩy tám năm nay, cô còn bảo mới ngày nào.
Bẩy năm về trước, quan Huyện Ðông Anh có mời cụ Tú Lâm đến dạy hai cô con gái học chữ
nho. Bấy giờ cụ Tú gặp lúc quẫn bách vì luôn mấy năm buôn gỗ bị thua lỗ, cái vốn dăm sáu
nghìn đã gần khánh kiệt, nên thấy người bạn xưa muốn tìm cách giúp đỡ thì nhận lời ngay.
Cụ Tú lúc đó mới góa vợ nên đưa cả con cái lên huyện cho tiện đường dạy dỗ, còn Huy thì cũ
đã cho trọ học nhà ông Phán Hai ở Hà Nội.
Trong hai năm, mỗi lần nghỉ lễ, họăc nghỉ hè, Lộc về chơi nhà đều gặp Mai. Khi ấy Mai mới
mười một tuổi mà Lộc thì đã lớn, và theo học ở lớp ba trường Trung Học Tây.
Lộc coi Mai như một người em gái nhỏ, và yêu quý Mai lắm; mỗi lần ở Hà Nội về mua quà
cho hai em thức gì cũng mua cho em Mai thức ấy.
Mai nhẩm ôn lại chuyện xưa mủm mỉm cúi xuống nhìn guốc nói:
- Thế ra ông là anh Lộc của em đấy?
Mai cảm động buộc mồm nói ra câu quá thân mật. Cô thẹn thùng hỏi chữa luôn:
- Thưa ông, thế cô Lục và cô Thanh, nay ở đâu?
Lộc như hiểu ý nghĩ của Mai đáp lại:
- Thì cô cứ gọi là anh như xưa cũng được chứ sao. Em Lục lấy chồng đã vừa có cháu, em
Thanh thì hãy còn ở nhà mẹ tôi... Thế còn em..., còn cô, nay chắc cô cũng xuất giá rồi chứ? Ðấy
cô coi tôi cũng biết chữ nho đấy.
Mai thẹn không trả lời, Lộc nhắc lại câu hỏi:
- Thế nào, tôi hỏi cô đã có chồng chưa, sao cô lại không đáp/
- Thưa ông, em nghèo thế thì ai lấy.
- Thế sao tôi không nghèo mà cũng chưa ai thèm lấy tôi?
Mai nghe câu nói của Lộc có ý muốn ghẹo và hiểu ngay rằng ông anh thuở nhỏ, nay không
còn thể nhận là anh được nữa. Bởi thế, cô ngồi im, giữ nét mặt nghiêm trang, rồi quay ra nói
chuyện với bà cụ ngồi bên.
- Ngày trước, thầy tôi ngồi dạy học ở nhà cụ thân sinh ra quan đây.
Ngắm nghía Mai, Lộc sửng sốt hỏi:
- Vậy ra cụ Tú đã...
Lộc sợ lầm không dám nói dứt câu. Mai buồn rầu đáp:
- Vâng, thầy em mất rồi.
- Thương hại! Cụ Tú người hiền lành thông thái thế... Nhưng hình như cô còn một e...
 





