GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 12
Tác phẩm văn học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lài
Ngày gửi: 22h:27' 13-07-2025
Dung lượng: 397.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Lài
Ngày gửi: 22h:27' 13-07-2025
Dung lượng: 397.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Nói Về Miền Nam - Sơn Nam
Ông Hoàng Hiệp Và Trận Giặc Năm 1673
Dân Hai Huyện Và Ông Nguyễn Hữu Cảnh
Nhận Xét Về Ca Dao Hậu Giang
Ăn Ở Cho Đúng Điệu Nghệ
Một Nghệ Thuật "Trưởng Giả Mới"
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nói Về Miền Nam
Sơn Nam
Huyền Băng nghĩ đa số chúng ta thường tự hào về miền Nam Việt Nam với khí hậu ôn
hòa hai mùa mưa nắng, với đồng ruộng mênh mông, sông nước bạt ngàn lắm tôm nhiều
cá. với những người dân bình dị hiền hòa, vậy thì chúng ta hãy theo chân nhà văn Sơn
Nam lần lại một phần lịch sử của dãy đất này, cũng như một số phong tục tập quán để
hiểu rõ hơn về mãnh đất phương Nam và yêu mến nó hơn...
ÔNG HOÀNG HIỆP VÀ TRẬN GIẶC NĂM 1673
Vào hậu bán thế kỷ XVII, ở lãnh thổ Việt Nam xảy ra những trận giặc chót của cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh.
Năm 1648, Trịnh đánh vào Nam Bố Chính và cửa Nhựt Lệ, bị thua to vì tướng Đàng Trong
là Trương Phúc Phấn giữ vững lũy Trường Dục.
Năm 1655, quận Trịnh lại khuấy rối vùng Nam Bố Chính. Tướng Nguyễn Hữu Dật bày kế với
Hiền Vương, xin đánh bất thình lình vào địa phận chúa Trịnh, Hiền Vương đồng ý. Cùng với
Nguyễn hữu Tấn, Nguyễn hữu Dật đánh đâu thắng đấy, chiếm được bảy huyện ở tận Nghệ
an. Các quan lại địa phương lần lượt đầu hàng, dân chúng tiếp đón nhưng họ đâm ra thất
vọng - thuế điền, nhứt là thuế thân (sai dư tiền) đánh quá cao, mặc dầu đó là thuế biểu áp
dụng thường lệ ở Đàng Trong, Nguyễn Hữu Dật phủ dụ dân chúng rằng biện pháp ấy chỉ
tạm thời - nhưng không mấy ai tin tưởng lời hứa hẹn đó.
Quá hăng hái, Dật muốn tiếp tục tấn công nhưng Hiền Vương dạy Dật nên cẩn thận, mọi
việc binh nhung phải bàn bạc trước với Nguyễn Hữu Tấn.
Để giải quyết tình trạng "mắc sa lầy" ở xứ lạ quê người, Dật phát triển tâm lý chiến loan tin
làm hoang mang đối phương, bí mật giao thiệp với Trịnh Tạc. Mặc dầu đã cho Hiền vương
biết trứơc nhưng việc tư thông của Dật gây thêm nhiều thắc mắc với Nguyễn Hữu Tấn - có
lẽ Nguyễn Hữu Tấn ganh công. Vì tiểu tâm, Nguyễn hữu Tấn rút thình lình tất cả quân số về
Nam, cố ý bỏ Nguyễn hữu Dật ở lại một mình. Chừng hay được, Dật vẫn trầm tĩnh, ra lịnh
cho 30 vệ sĩ - số vỏn vẹn ở bên cạnh Dật - phất cờ gióng trống trong lúc rút lui, khiến quân
Trịnh không dám truy kích theo.
Thế là chiến thắng đã hóa ra chiến bại.
Cuối năm 1661, đầu 1662, Trịnh Căn và Lê Thời Hiến đánh thình lình vào tận lũy Đồng Hới.
bị thất thế, Dật rút vào lũy để thủ hòa. . .
Bấy giờ, Hiền vương hiểu thựcl ực của mình hơn bao giờ hết. Theo lời tâu của Nguyễn Hữu
Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa quyết định xây thêm hai lũy nhỏ: Trấn Ninh và Sa Phụ để kiện
tòan hệ thống sẳn có.
Khỏang thời gian hưu chiến 10 năm (1662-1672) giúp Hiền vương chỉnh đốn thuế khóa, tích
trữ lương thảo, Nông Lại tư đặt ra kế họach do ký lục Võ Phi Thừa sọan thảo, nhằm mục
đích đo diện tích các ruộng đất đang khẩn hoang và đã khai khẩn; thuế đánh khá nặng: một
mẫu (chừng 1/3 hectare) ruộng hai mùa phải đóng 40 thắng lúa (1thăng -non 3 lít) và 8 hạp
gạo trắng.
Năm 1667, Trịnh Tạc đuổi Mạc Kính Vũ; Vũ chạy trốn qua Tàu, mầm nội lọan gần như dứt
hẳn.
°
Tháng 6 dương lịch 1672, Trịnh Tạc kéo binh vào Nam, quyết tiêu diệt chúa Nguyễn. việc bố
trí rất khéo léo, chu đáo.
Trịnh Căn làm nguyên sóai, cai quản thủy quân.
Lê Thời HIến (đã từng được tín nhiệm hồi chiến cuộc Nghệ An) thống suất bộ binh.
Mỉa mai nhứt là hòang đế Lê Gia Tông, 12 tuổi, cũng được chúa Trịnh đem đi "ngự giá thân
chinh".
Tất cả quân lực chừng 100.000 người nhưng loan tin là 400.000!
Khi nghe viên Trân thủ Nam Bố Chính cấp báo, Hiền vương bảo với các quan: "Trịnh Tạc đã
suy thời nên vào đâyđánh m6ọt trận chót. Kinh ngiệm xưa nay thì kẻ liều mạng như Tạc bao
giờ cũng thảm bại".
Hiền Vương bàn qua việc lựa chọn vị nguyên sóai của đàng Trong. Các quan đồng ý giao
trách nhiệm ấy cho hòang tử Tôn Thất Hiệp, con trai của Hiền Vương. Hiệp còn trẻ, chưa
9dược 20 tuổi, đang giữ chức Chưởng cơ, chưa từng ra trận lần nào cả!
Tại sao có sự lựa chọn đó? Phải chăng dụng ý của Hiền Vương là cận thần làđối phó với
chúa Trịnh về uy tín chính trị, biểu dương sự trưởng thành của Đàng Trong trên mọi địa hạt.
Đàng Ngoài, Trịnh Căn (40 tuổi con của Chúa) làm nguyên sóai thì ở Đàng Trong, Tôn Thất
Hiệp (non 20 tuổi - con của chúa) đâu kém năng lực!
Trịnh Tạc (67 tuổi) đi theo ủng hộ con; Hiền Vương (55 tuổi) cũng có mặt. Nói chung, ta thấy
Đàng Trong rất trẻ trung, thiếu một hòang để tượng trưng. Nhưng quân sĩ đôi bên dư hiểu
rằng các chúa Trịnh đã nhiều lần bạc đãi, xử giảo các hòang đế họ Lê. Và phen nầy Lê Gia
Tông ra trận với số phận một tù binh của chúa Trịnh, không hơn không kém.
Bộ tham mưu của nguyên sóai Hiệp gồm vệ úy Mai Phúc Lãnh và ký lục Võ Phi Thừa.
Quân Đàng Trong kéo ra Quảng Bình. Chưởng ơc Trương Phúc Cang (con Trương Phúc
Phấn) đi tả tiên phuông, giữ lũy Trấn Ninh, đó những đòn tấn công mãnh ☲ệt của địch. Lão
tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ được giữ lũy Sa Phụ (hữu ngạn sông Nhựt Lệ), ở mặt trận thứ
yếu. Hữu Dật bị đặt vào địa vị ấy, phải chẳng do sự cố ý của Hiền Vương, hoặc vì lý do
chiến thuật.
Vào khỏang tháng 9-10 dương lịch 1672, Trịnh Căn và quân sĩ đến Nam Bố Chính.
Lạ thay! Các tướng của Trịnh và Nguyễn nhìn nhau, dò xét, hăm dọa nhau hơn ba tháng
trường rồi mới chịu đánh thật sự bằng gươm dáo và đại bác.
Mở đầu, Trịnh Căn dùng tâm lý chiến, kêu gọi Đàng Trong, tố cáo việc các chúa Nguyễn
không phục tùng nhà Lê, xây thành đắp lũy, bày sưu cao thuế nặng . . .đồng thời, Trịnh Căn
thử tấn công vào lũy Đồng Hới, chọn nơi kém phòng thủ nhứt của đối phương để xây một
chiến lũy khác đối diện, rồi đưa 1.000 chiến thuyền (?) đến vàn sông Gianh và vàn sông
Nhựt Lệ, chờ đổ bộ.
Biết tình thế nguy ngập, Tôn Thất Hiệp khiến tham tướng Lễ đắp nên lũy Trấn Ninh, bố trí
thêm súng thần công - mặt khác, cấp báo với Hiền Vương.
Hiền Vương dọ ý kiến. cai cơ Tổng Đức Minh tâu: Quân Trịnh đi đường xa, sẽ gặp khó khăn
về lương thảo. Ta nên cố thủ tại lũy, trì hõan thời giờ, chờ khi chúng mòn mỏi rồi hãy đánh.
Trần Đinh Ân đưa kế họach: Thực lực của quân Trịnh dưới 100.000 người, không quá hùng
mạnh như chúng loan tin. Ta cứ đồn rằng quân ta đông đảo, 160.000 người, hiện đang mộ
thêm 100.000 nữa, tất cả do hòang tử HIệp chỉ huy, ắt địch quân phải xao xuyến, hoang
mang.
Hiền Vương đồng ý, tuyển mộ thêm quân rồi tức khắc hạ lệnh chỉnh đốn các trạm địch, tăng
cường sự phòng thủ miền duyên hải, từ Đồng Hới đến Huế.
Sứ giả của Trịnh Căn đến trước lũy Trấn Ninh. Hòang tử Hiệp sai Cai cơ Tú Minh ra tiếp
kiến. Cuộc đấu khẩu diễn ra sôi nổi. luận điệu cho rằng các chúa chống lại nhà Lê đã bị Tú
Minh bác bỏ: Các Chúa Nguyễn rất trung thành với nhà Lê vì vậy cương quyết diệt họ Trịnh,
kẻ lấn quyền, áp chế nhà Lê.
Dứt cuộc đàm phán ngắn ngủi ấy, Nguyễn Hữu Dật bàn với hòang tử HIệp:
- Tên sứ giả nọ trở về báo cáo thái độ cứng rắn của ta cho Trịnh Căn biết, Trịnh Căn tức
giận sẽ tấn công lập tức. Quân sĩ ta phải sẵn sàng ứng phó từ giờ phút này.
Tháng 1 dương lịch 1673, phó tướng của quân Trịnh là Lê Thời Hiến xua quân, hạ trại đối
diện lũy Trấn Ninh. Đợt tấn công đầu tiên của Hiến bị tan vỡ nhanh chóng. Trịnh Tạc nổi
xung, nghiêm phạt các quân bại trận.
Với lực lượng cũ, tăng cường thêm 3.000 quân, Lê Thời Hiến hùng hổ mở cuộc tấn công
thứ hai. Đông như kiến cỏ, quân Trịnh liều chết xung phong mãnh liệt, dùng chất "bộc phá"
đặt vào lũy Trấn Ninh, đốt cháy dẫn hỏa treo vào diều giấy thả qua tận chót lũy, đào hầm ẩn
núp dưới cơn mưa đạn do quân sĩ Đàng Trong từ trên lũy nã trả xuống như mưa.
Chỉ trong vòng một ngày chiến đấu, lũy Trấn Ninh bị phá nhiều chỗ, bị chiếm, giải vây được
rồi bị tái chiếm đến ba bốn lượt.
Hoảng sợ, Trương Phúc Cang toan bỏ lũy, qua thủ bên này sông Lê Kỳ nhưng hòang tử
Hiệp không đồng ý, e tổn hại cho sĩ khí ba quân. Bấy giờ, hòang tử Hiệp nghĩ đến các giải
quyết chót: Sai quân phi ngựa đến lũy Sa Kỳ, truyền cho lão tướng Nguyễn Hữu Dật phải
tức tốc qua lũy Trấn Ninh để cứu khổn.
Nhận lịnh ấy, Nguyễn Hữu Dật lạnh lùng trả lời: "Ta chỉ lo gìn giữ lũy Sa Phụ nầy mà thôi.
Ngay từ ồi đầu chiến trận, ta không được ai chia sớt trách nhiệm nào ở lũy Trấn Ninh cả. Ta
không dám đi!" Lúc vận mạng đàng Trong như chỉ mành treo chuông, tại sao Nguyễn Hữu
Dật bất tùng quân lịnh? Chúng ta nên hiểu tâm trạng của Nguyễn Hữu Dật lúc ấy, tuổi quá
cao, 69 tuổi. Phải chăng Nguyễn Hữu Dật bất mãn khi thấy mình bị bố trí ở cánh quân
không quan trọng? Hiền Vương không còn tín nhiệm đầy đủ nơi Dật? Hai mươi bốn năm về
trước, khi còn là Cai cơ, lãnh chức ký lục ở dinh Bố Chánh, Dật đã một phen bị tình nghị
"thông đồng với Chúa Trịnh" nhơn đó bị giam. Sau Hiền Vương tha tội, đuổi Dật về làm văn
chức ở chánh đinh để tiếp tục theo dõi hành động tư tưởng. Hồi ấy, kẻ ám hại Dật chính là
Tôn Thất Tráng, cha vợ của Tôn Thất Hiệp bây giờ. Rồi đến chiến sự Nghệ An còn nóng
hổi! Dật cũng bị Tôn Thất Tráng, nhứt là Nguyễn Hữu Tấn xuyên tạc sự thật, dèm pha với
Hiền Vương về tội "thông đồng với địch". Tuy biết sự thật đen trắng ra sao nhưng Hiền
Vương không hề khiển trách những kẻ đã vu khống Nguyễn Hữu Dật. Rất may là Tấn Đã
chết, nếu không, chưa chắc phen nầy Hiền Vương còn thu dụng Dật ở nhiệm vụ không quan
trọng là giữ lũy Sa Phụ! "Nhứt chiến tài tình thiên cổ lụy". Sách lược "liên lạc với địch để tìm
hiểu rồi ly gián địch: đã được Dật áp dụng đem nhiều kết quả có lợi cho sự nghiệp Đàng
Trong nhưng mấy ai chịu hiểu giùm. Dầu muốn hay không, Dật thấy sự nghiệp tinh thần của
mình bị sụp đổ, sau 50 năm phò chúa, bằng xương bằng máu (từ hồi Sãi Vương còn sống).
Nhưng phút giây bất mãn ấy chỉ thỏang qua.
Dật hối hận ngay, chạy nhanh lên lũy Sa Phụ, đứng quan sát thực tế của chiến trận. Bên kia
sông, súng thần công nổ vang rền, khói bốc mịt trời che lấp lũy Trấn ninh. Chắc chắn Lê thời
Hiến chiếm ưu thắng và tướng sĩ Đàng Trong đang đại bại ở ngay mặt trận chánh.
Dật dư hiểu: Nếu mình không đi cứu viện thì hòang tử Tôn Thất Hiệp phải đi cứu viện - và
giờ nầy đang đi. Liệu vị nguyên sóai quá trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm ấy đủ sức ứng phó? Dật
tức tốc lên yên, kéo quân đến Trấn Ninh, dọc đường, Dật cẩn thận vạt vỏ viết vào thân cây
mấy chữ tóm tắt: "Hữu Dật đã qua cứu viện lũy Trấn Ninh, xin hòang tử đến giữ lũy Sa Phụ
đang bỏ trống".
Đọc tin ấy, hòang tử Hiệp qua Lũy Sa Phụ.
Để chận nẻo qua sông của quân cứu viện, Trịnh Căn khiến Tham đốc Thắng đưa 30 chiến
thuyền vào tuần tiểu sông Nhựt Lệ nhưng bị hòang tử Hiệp bố trí đánh tan.
Trời tối như mực, ngửa bàn tay không thấy, khi Nguyễn Hữu Dật đến Trấn Ninh; binh sĩ lớp
chết, lớp bị thương, số còn lại; chiến đấu gần như tuyệt vong. Dật ra lịnh gom nhánh cây, cỏ
khô, đốt lên sáng rực. Biết có viện binh đến, quân Trịnh hỏang hốt, không dám tiến. Suốt
đêm, Dật đốc suất quân sĩ tích cực sửa chữa khỏang lũy khá dài bị phá hư (30 trượng:
120mét). Nhưng trời vừa rạng sáng, Lê Thời Hiến lại tấn công. Quân sĩ Đàng Trong vững
tinh thần, chống trả mãnh liệt. Có lẽ trong giờ phút ấy Nguyễn Hữu Dật đã khích lệ quân sĩ
với câu nói: "Kẻ ở trước mặt chúng ta chính là bọn ngọai bang!"
Ngày ấy, hai bên liều chết, xung phong, bị phản xung phong, rồi liên tiếp nhiều ngày như thế
. . Quân Đàng Ngòai chết quá nhiều. Quân Đàng Trong chết không kém.
Hiền Vương sai người đến trận địa để tìm hiểu, Dật đáp: "Xưa kia, quân ta đánh tận địa
phận của chúng ở Nghệ an vậy mà chúng sợ ta, huống hồ hôm nay ta đã làm chủ tình hình
tại đất nhà, có thành cao, hố sâu ngăn giữ". Dật cũng viết thơ với Hiền Vương, thề sẽ đem
hết tài sức đềnđáp ơn chúa, nếu sơ sót thì xin chịu tội theo quân luật.
Gíó bấc thổi mạnh, mưa phùn lê thê, ray rứt, lạnh lẽo hơn bao giờ hết. Tự nhận rằng không
thắng nổi Đàng Trong, Trịnh Tạc bắt đầu trở về: Tiết trời bất lợi; sau bảy tháng vắng mặt, ở
Hà Nội liệu xảy ra biến cố gì trong phủ chúa chăng?
Tất cả tù binh, thường dân . . . được Trịnh Tạc cho tiền bạc quần áo, phóng thích tại chỗ;
họ muốn đi về đâu thì cứ đi.
Sa vào kế nghị binh của hoàng tử Hiệp, Lê thời Hiến không dám nán lại chiến đấu, bèn kéo
binh tút lui sau khi hay tin các chiến thuyền của Trịnh Căn đã rời cửa Nhựt Lệ theo . .. trận
gió ngược.
Chiến trận đã tàn!
Mùi thuốc súng như còn phảng phất. Nhưng khói hương bắt đầu tỏa nghi ngút từ bên trong
lũy Trấn Ninh, khói hương của lễ giải oan do hòang tử Hiệp tổ chức cho oan hồn tử sĩ Đàng
Trong.
Hòang tử không quên đặt đàn tràng bên kia lũy, bày cuộc lễ tương tự để cầu siêu cho tử sĩ
Đàng Ngoài.
Những người chết được yên ủi phần nào khi thấy con cháu của họ bắt đầu từ đấy hưởng
thanh bình - mãi 100 năm sau, mới chết chóc nữa!
Theo lịnh của hòang tử Hiệp, số tù binh ở Đàng Ngòai -và già trẻ bé lớn, nạn nhân thời cuộc
-bấy lâu bị giam giữ có thể trở về quê, với tiền bạc, quần áo cấp phát đẩy đủ; không một ai
bị giết cả.
Tháng 4 dương lịch 1673, hòang tử đến Thạch Xá. Hiền Vương mừng rỡ, khen ngợi, ban
thưởng 100 lượng vàng, 1.000 lượng bạc, 50 tấm vóc gấm.
Hòang tử Hiệp đáp lời lẽ chân thành:
"Nhờ uy lực của cha, nhờ công lao của tướng sĩ mới có cuộc vui đại thắng này. Một mình
con làm sao thắng nổi?" Hiền Vương khen: "Con hãy nhận vì con rất xứng đáng".
Hòang tử Hiệp nhận lãnh vàng bạc nhưng liền sau đó chọn cho mình một thái độ: Phát
nguyện trở thành phật tử - cà tích cực hơn - từ bỏ gia đình, thế phát xuất gia không chút do
dự, tuy mới 20 tuổi.
Sử chép: Khi chỉ huy chiến trận, ông hòang Hiệp sống khắc khổ, ngồi trong trại, chỉ có hai vệ
sĩ túc trực bên cạnh. Lần nọ, một lão già ở Quảng Bình tên Bật Nghĩa đến trại với ý định
"tiến" cho ông hòang một thiếu nữ xinh đẹp. Ông hòang từ chối nhưng không quên cấp cho
lão già 10 quan tiền, hiểu rằng người cha nọ hành động như vậy chỉ vì quá túng thiếu cơm
áo, thời loạn.
Sự chọn lựa bất ngờ của hòang tử Hiệp không khó hiểu lắm. Tám tháng ở chiến trận là cả
một đời người, là cả thể kỷ thứ XVII ở Việt Nam! Hẳn ông hòang Hiệp thầm đau xót cho
đường họan lộ quá đắng cay của lão tướng Nguyễn Hữu Dật! Giữa cảnh máu xương lầy lội,
tiếng đại bác vang rền, mùi diêm sanh nồng nặc, ông hòang dư hiểu rằng từ bấy lâu các
thương gia Hòa Lan, Bồ Đào Nha cạnh tranh nhau ở Đàng Ngòai, ở Đàng Trong, để mua tơ
lụa, quế, trầm hương và bán các nguyên liệu giết người. Họ lấn nhau, dùng mọi thủ đoạn
tinh vi nhứt.
Ông hoàng cũng thấy tận mắt những chiếc đồng hồ kiểu Tây phương và tuy xa gia đình, ông
hay tin đứa con trai của mình - Tôn Thất Lễ - sau cơn bệnh nặng mà các ngự y điều trị
không nổi, đã rửa tội theo phép Công giáo (1674).
Sanh, lão, bịnh, tử . . ông hòang Hiệp nhận rõ, thấm thía, không kém Thái tử Tất Đạt Đa
ngày xưa khi ra bốn cửa hòang thành.
Ông "dũng mãnh, tinh tấn', khiêm tốn nhận mình là một chúng sanh trong kiếp sát na. Vì đã
từng đau khổ giữa cuộc thế, đã từng đóng vai người anh hùng, ông muốn thành tâm tìm một
cõi cực lạc thực tế, sống ẩn dật như nhà hiền triết đủ can đảm, im lặng.
Ông liễu đạo năm 23 tuổi (1653 - 1675) , ngày rằm tháng 6 năm Ất Mão, an táng ở làng
Hiền Sĩ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, có lẽ không lưu lại một bút tích, một bài thơ
truyền khẩu nào. Nhưng hậu thế tưởng còn nhận được hình bóng bất diệt của ông qua nụ
tười phảng phất trên môi của các tượng Bồ Tất trong chùa, giữa tiếng kệ kinh.
Trăm năm sau, anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa (1773), đại phá quân Thanh (1789) làm
rạng danh tòan đất Việt.
(Trong quận 10 thành phố Hồ Chí Minh (gần trường đua Phú Thọ, nay là sân vận động),
chúng ta có đường Tôn Thất Hiệp, nhưng không biết có mấy ai cư ngụ trên đường biết đến
lịch sử của con người tài đức này!)
DÂN HAI HUYỆN VÀ ÔNG NGUYỄN HỮU CẢNH
Phàm người Việt yêu nước, ai lại chẳng muốn nói, muốn nghe đến vẻ đẹp của giang sơn
gấm vóc tức là phong cảnh núi sông, với bao nhiêu hào khí.
Để tượng trưng cho đất nước thân yêu, nhiều người vẽ bản đồ Việt Nam với những lằn nét
mơ hồ, sau đỉnh hương trầm cuồn cuộn khói. Hoặc là chùa Một Cột, lăng tẩm Huế rồi đến
cổng lăng ngài Tả quân Lê Văn Duyệt.
Ba kiểu kiến trúc tiêu biểu cho ba miền, cũng khá cụ thể nhưng chưa ổn. Chúng tôi đã xem
một bức tranh nho nhỏ, trong đó cái cổng lăng ngài Tả quân được thay thế bằng hình ảnh
một cô gái đội nón lá, chèo xuồng trên kinh rạch, giữa biển lúa vàng: Đã bắt đầu gợi được
niềm vui tươi, phóng khóang rồi đấy! Nhưng cũng chưa thỏa mãn. Tại sao cô gái ấy chèo
xuồng một mình và cười một mình. Cô ta sẽ già, hóa đá chăng? Còn thiếu một điều gì, khó
nói - nhưng có lẽ quan trọng khi muốn tìm một hình ảnh tượng trưng cho cá tính miền Nam.
Có bạn nóng nảy nói nhanh:
- Tại sao lại khó tính, lẩm cẩm như vậy? Cứ đờn ca vọng cổ, ăn nhậu say sưa, lựa món
ngon vật lạ nào lượn ếch rùa rắn là đầy đủ bản sắc miền Nam rồi. Nếu cần bổ túc thì cứ nói
thêm: Người miền Nam hiền lành, không có gì sâu sắc, ít lo xa, hơi lười biếng, ưa nói thẳng.
..
Nhận xét ấy đúng nhưng vẫn còn hời hợt. Nếu chỉ có bao nhiêu nét không sâu đậm ấy thì
liệu ông cha ta có giữ nổi đất và sống nổi đến ngày nay chăng? Trong lịch sử nhân lọai, bao
nhiêu dân tộc đã mất tên, trong khi họ ít "lo xa, không gì sâu sắc; hơi lười biếng; ưa nói
thẳng!"
Miền Nam là phần đất cay nghiệt, đã từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng bao
nền văn hóa. Lịch sử đã cho biết: Xưa kia, tại đồng bằng sông Cửu Long đã mọc lên vương
quốc Phù Nam. Vương quốc này phồn thịnh nhờ làm trung gian thương mãi giữa vài nước
Đông Nam Á: còn lưu lại vài đồng tiền vàng La Mã, có thể làm giả thuyết cho sự liên lạc
giữa Phương Tây và miền Nam từ thế kỷ thứ III, cách đây 1.600 năm. Ấy thế mà nước Phù
Nam lâm vào cảnh tang thương, tang thương cho đến nỗi các nhà khảo cổ giỏi nhứt cũng
chẳng tài nào ức đóan: Người Phù Nam thuộc vào dân tộc nào? Tiểu quốc của họ bị diệt
vong từ đâu? Và ngay đến cái tên tạm bợ là Phù Nam! Các sử gia chỉ biết tên ấy xuyên qua
vài trang sử đời Lương, đời Đường bên Tàu; Ngày nay ta đọc hai chữ nho Phù Nam, và
chẳng hiểu các sử gia Tàu có phiên âm lại đúng giọng cái tên của một tiểu quốc bé bỏng,
tuy giàu sang nhưng sớm mai một? Căn cứ vào các nền nhà, đồ trang sức tìm được tại
vùng đất xưa bên kia Hậu Giang, chúng ta quả quyết: Nước Phù Nam bị tiêu diệt vì văn hóa
của họ chẳng biểu lộ nét gì đặc sắc, tòan là góp nhặt văn hóa Ấn Độ, Ba Tư. Thế thôi.
Bao nhiêu thành quách bị chôn vùi dưới lớp phù sa, trở thành một vùng đồng chua hoang
dại. Thế mới hay: Phù sa sông Cửu Long và biển Nam Hải có sức mạnh tiêu diệt những
nhóm người lưu vong, ăn xổi ở thì, thiếu cá tính. Và những kẻ đến sau đó, tuy đã thôn tính
tiểu quốc Phù Nam nhưng vẫn bị sa lầy, trụ hình torng nếp sống mộc mạc, kiếm ăn ngày
nào hay ngày ấy, tập trung nhà cửa trên vài giồng đất cao ráo, khai thác sơ sài vùng phụ
cận. Và ra khỏi xom chừng vài trăm thước là cây cỏ mọc hoang, dày bịt, làm sào huyệt cho
cọp, voi. Ở vùng đất phù sa ẩm thấp mà sanh họat của nhóm người ấy thu hình lại như một
số thôn bản miền sơn cước.
Phù sa sông Cửu Long, vinh Xiêm La đã chôn vùi nước Phù Nam!
Phù sa sông Cửu Long, vịnh Xiêm La đã trở thành vùng sơn cước đối với người Miên!
Người Việt Nam lại xuất hiện, nhận lãnh bao thử thách.
° °
°
Họ là những người ở Bình Dịnh, Quảng Nam. Họ chán chê những thửa ruộng kém mầu mỡ
nhỏ hẹp, giới hạn bởi dãy Trường Sơn khô cằn và biển Đông đầy giông bão. Trên những
thửa ruộng ấy, dường như người Chiêm Thành đã chịu thua thiên nhiên: Họ ít chịu ly hương
và điểm quan trọng nhứt là họ quá bảo thủ về văn hóa, chẳng muốn làm kẻ "lai căng" hầu
đón gió bốn phương. Người Việt Nam ta thích đi xa và giàu tinh thần dung hòa. Vùng đồng
bằng Đồng Nai và Cửu Long đang hcờ đón. Từ đời Hiền Vương cách đây 300 năm, người
Việt Nam trong thời Nam Bắc phân tranh đã sẳn sàng đi xa hơn ranh giới của quê cha. Họ
theo đường biển, dùng ghe đánh lưới, đến tận mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc.
Sử sách gọi đó là đám người "lưu dân", người không căn cứ nhứt định, sống phóng túng,
nghĩa là những phần tử bất hảo, dốt nát, thiếu luân lý, bị luật lệ và phong tục lên án. Tóm lại,
đám dân tứ chiếng trốn xâu lậu thuế ấy phá hại văn hóa hoặc thuộc vào trình độ văn hóa
thấp.
Gần đây, vài nhà xã hội đã minh xác khả năng kiến tạo và tinh thần đạo đức của những lưu
dân từ Âu Châu sang lập quốc tận Mễ Tây Cơ, Ba Tây. Đa số chỉ là nạn nhân, lắm khi là tội
nhân bị lên án rất oan ức bởi luật lệ và luân lý phong kiến. thử xem lại vài chi tiết của bộ luật
Hồng Đức, đời Lê: giết trâu vô cớ, trai gái ăn ở với nhau theo kiểu tự do kết hôn, chống đối
với cường hào ác bá, đều là những tôi có thể bị đày gần (lưu cận chu), đày xa (lưu viễn
chu) và đày ra khỏi biến giới tổ quốc (lưu ngọai chu). Ở nước ta, các vùng Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và ngay cả vùng tỉnh Thanh Hóa há chẳng phải do một
số đông tội nhân bị lưu hình đến khai thác. Thực tế chứng minh rằng thế hệ của họ và các
thế hệ về sau đã góp công xây dựng văn hóa bảo vệ được thuần phong mỹ tục.
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, một số lưu dân khá đông đến thám hiểm và định cư tại ven
biển và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nói chung, người xa lìa tổ quốc thường ưa thích
mua bán - thứ nghề dễ sinh lợi, ít cực nhọc. Nhưng số lưu dân Cửu Long không chọn con
đường dễ sống đó. Nhiều người cho người Việt Nam ít có khiểu về thương mãi. Rất có lý
nhưng cũng vô lý. Lúc bấy giờ , đám lưu dân Việt Nam đủ sức tranh thương với người
Miên, nói rõ hơn là họ đủ sức tổ chức thương mãi, đầu cơ hàng hóa ở một vùng mà nền
thương mãi còn trong tình trạng đổi chác sản phẩm.
Thái độ của đám lưu dân thật sự rõ rệt: họ lo khai thác đất hoang, đương đầu với bệnh tật,
cọp sấu, đùa giỡn với song biển. Họ chọn lực con đường đầy khó khăn, đầy vinh quang mà
có người cho rằng dại khờ, hời hợt. Miễn sao cho những kẻ đến sau được thừa hưởng di
sản quí báu của họ. Mặc cho kẻ khác phỉ háng, hiểu lầm. Họ chịu cực nhiều nhưng hưởng
rất ít. Đó là thái độ bám sát đất nước, tin tưởng nơi khả năng của con người. con người sẽ
biến đổi bùn lầy ra cơm, sẽ lập đình chùa trên biển cỏ. Hòan tòan tinh tưởng vào thiên
nhiên, cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên. Vì vậy mà các tay anh hùng hảo hớn thích
sống riêng biệt, mỗi người làm chủ một địa bàn riêng, chiếm cứ một con rạch, một cù lao.
Trong căn chòi nhỏ bé, với dụng cụ thô sơ và thuốc men hầu như không có, họ dám thi gan
chịu cảnh cô độc của con phượng hòang trên đỉnh núi, của con cù nằm vùng lâu năm, chờ
thời. Lúa gạo, cá tôm nếu dư dã thì tặng cho bạn bè, để dành, nếu để dành ăn không hết
thì bỏ. Một kiểu người hùng trong tiểu giang sơn. Thà là làm đầu gà hơn là đuôi voi. Nếu
cần làm việc thì sẳn sàng chịu đựng khổ nhọc, sau khi làm việc khó nhọc thì nên hưởng lạc
lập tức, và hưởng lạc đến mức tốc độ.
Họ không bao giờ là những người Do Thái lang thang. Đất nước qua phì nhiêu, phần đất
nước ấy không xa lìa tổ quốc, trái lại, nó nối liền về mặt địa ;ý.
Trong những năm Trịnh - Nguyễn phân tranh, dường như chúa Nguyễn bỏ rơi họ. Nhưng
một cơ hội mới lại đến, đem may mắn cho đất nước: bọn di thần nhà Minh xin di trú nơi
phần đất của chúa Nguyễn. Hiền Vương giải uqyết một cách thần tình: cho phép họ vào
vùng đồng bằng miền Nam mà khai khẩn. Vùng ấy, lúc bấy giờ, mặc nhiên nằm dưới sự bảo
trợ về mặt chánh trị của chúa Nguyễn.
Sử đã chép nhiều về các tướng Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch. Và nàh tổ chức Mạc
Cửu. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh vài điểm quan trọng:
- Trần Thắng Tài chú trọng mở mang thương mãi và tiểu công nghệ ở vùng cù lao Phố (Biên
Hòa), nhứt là thương mãi. Sau khi chợ cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá, các thương gia rủ
nhau xuống vùng chơ Lớn lập cơ sở thương mãi khác.
- Dương Ngạn Địch đến vùng Mỹ Tho lập ra trang trại ở vùng Tân Hiệp, mỹ tho qua địa
phận Bến Trẻ ngày nay. Nhóm nầy chú trọng đến thương mãi và nghề ruộng rẩy.
- Mạc Cửu đến vùng chợ Hà Tiên, nhắm vào việc mở mang thương cảng, tổ chức sòng bạc
và làm trung gian chánh trị, cố ý đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử ngọai giao giữa chúa
Nguyễn, Cao Miên và Xiêm La.
Bấy lâu, chúng ta thường dùng danh từ "khai hoang" với nhiều nghĩa mơ hồ. Cần phải xác
định vai trò của bọn di thần nhà minh ở miền Nam, lúc họ mới đến. Trừ trường hợp Dương
Ngạn Địch ở Mỹ tho, các ông Mạc Cửu và Trần Thắng Tài chỉ chú trọng việc thương mãi, tổ
chức phố chợ mà thôi. Nhứt là ông Mạc cửu, ông này quá thiên về họat động chánh trị. Vì
vậy, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy vùng phụ cận chợ Hà Tiên và chợ Biên Hòa còn quá
nhiều đất hoang, chưa canh tác. Số quân sĩ đi theo Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch và
số mưu sĩ đi theo Mạc Cửu đều nghiêng về nếp sống thành thị, sống tập trung, lo buôn bán
hoặc phát triển tiểu công nghệ. Thành thị đóng vai trò quan trọng cần thiết. Điều ấy đã đành,
những chúng ta nên ghi rõ; chính những người thành thị nầy đã hưởng lợi khá nhiều, trong
khi đám lưu dân đã sản xuất quá nhiều nhưng hưởng không bao nhiêu. Nhờ việc phân phối
xuất cảng sản phẩm do bọn di thần nhà Minh nắm giềng mối, đám lưu dân Việt Nam ở ven
rừng, ở bờ biển được cải thiện đời sống và càng hăng hái làm việc.
Đám lưu dân chịu thiệt thòi ít nhiều nhưng vẫn vui. Bằng cớ là họ không nổi lọan. Họ vui, có
lẽ vì một lý do khác hiển nhiên, nhưng thầm kín hơn. Quân sĩ của Trần Thắng Tài, Dương
Ngạn Địch và bọn thân thuộc của Mạc cửu gồm đa số là đàn ông! Họ cần lập gia đình sanh
con nối dõi tông đường và do đó, họ phải cưới đàn bà Việt Nam làm vợ. Đàn bà Việt Nam
bấy giờ có lẽ hơi ít nên được ông chồng Trung Hoa ưu đãi. Đàn bà Việt Nam lãnh phần nấu
nướng thức ăn, làm bánh trái và dạy dỗ đàn con . . hai dòng máu. Một dịp để cải cách kỹ
thuật nấu bếp. Trong sự chung đụng nầy, bao nhiêu phong tục Việt Nam và Trung Hoa cọ
sát và dung hòa nhau. Lại có thêm nhiều danh từ Triều Châu được Việt hóa. Lễ Thanh Minh,
lễ cúng Giới tử Thôi, và Khuất Nguyên đượm vẻ long trọng. Ngoài ra, còn tục lệ thắp đèn
trời. Số người lưu dân Việt Nam được tiếp xúc trực tiếp thường với người Trung Hoa lúc
mua bán, cụ thể hơn, họ tiếp xúc với những nông dân Triều Châu, hoặc Hải Nam và Quảng
Đông. Họ chịu khá nhiều ảnh hưởng về phong tục của nông dân miền Nam Trung Hoa (trong
khi đó, người Việt ở Bắc Phần hiểu văn hóa Trung Hoa theo đường lối thượng tầng qua Tứ
Thi, Ngũ Kinh). Ảnh hưởng của Thiên Địa Hội lan tràn vì bọn di thần nhà minh vẫn nuôi giấc
mộng bài Mãn. Và đạo Phật được truyền bá tiếp do các nhà sư từ Quảng Đông đến.
Đứng về danh nghĩa chánh trị, tất cả bọn di thần nhà Minh và đám lưu dân Việt Nam đều
sống dưới quyền bảo hộ của chúa Nguyễn. Trong lúc chúa Nguyễn bận rộn vì chiến tranh
với chúa Trịnh, vùng đồng bằng với số lưu dân anh hùng 9dịa phương và số người lai căng,
dễ trở thành một khu vực tự trị vì dầu muốn dầu không, bọn di thần vẫn mang nặng mưu đồ
lập tiểu quốc.
May thay, cuộc Nam Bắc phân tranh chấm dứt. Năm 1698, Minh Vương Nguyễn phúc Chu
nảy ra một sáng kiến thần tình. Ngài phái một vị quan kinh lược tòan tài vào Nam: Ông
Nguyễn Hữu Cảnh. Ông nầy lãnh trách nhiệm đặt cơ sở hành chánh ở miền Nam biên thùy,
chánh thức xem vùng Đồng Nai và Sài Gòn là hai huyện đầu tiên của nước Việt Nam: huyện
Phước Long và huyện Tân Bình. Sử chép rõ: Ông Nguyễn Hữu Cảnh mộ thêm một số lưu
dân Việt Nam, từ Quảng Bình trở vào, đem định cư vào hai huyện đầu tiên nầy, để tăng dân
số và để tăng chất lượng văn hóa. Dầu gì đi nữa, số lưu dân đến sau đi theo ông Nguyễn
Hữu Cảnh, cũng là những người Việt "thuần túy" so với số người đã định cư từ trước.
Dân Sài Gòn và dân Biên Hòa tự nhận là "Dân hai huyện" - một danh hiệu sang trọng chứng
nhận họ không phải là dân lai căng.
Đó là việc chỉnh đốn chính trị và văn hóa ở vùng sông Đồng Nai.
Còn vùng đồng bằng sông Cửu Long, với sông Tiền, sông Hậu và vùng mũi Cà Mau? Làm
sao giải quyết được? Vùng ấy ở nơi xa xôi nhưng có tương lai kinh tế gần như vô tận với
lúa gạo và cá mắm.
Năm sau, ở đất Cao Miên có cuộc làm phản. Chính ông Nguyễn Hữu Cảnh được lãnh trách
nhiệm kéo quân đến tận Nam Vang. Ông thắng trận nhưng khi trở về, cánh quân ấy mệt
mỏi, rút lui theo con đường Châu Đốc xuống An Giang, qua Vĩnh Kim (Định Tường). Tại
đây, ông Nguyễn Hữu Cảnh mang bịnh mà chết. Linh cữu của ông được đưa về Biên hòa,
đình trú tại đó.
Thử nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rõ: cánh quân ấy vượt qua con đường xuyến suốt đồng
bằng sông Cửu Long, từ sông Hậu giang qua Tiền Giang đến sông Đồng Nai. Ông Nguyễn
Hữu Cảnh đã cho đình binh (trú quân) tại tả ngạn sông Hậu, trước khi qua sông Tiền Giang,
trút hơi thở cuối cùng (năm 1700). Bao nhiêu thương binh, bịnh binh và quân sĩ đã được dịp
giải ngũ - hoặc đào ngũ - theo lộ trình ấy. Ông Nguyễn Hữu Cảnh đã mang bịnh vì khí hậu ở
vùng đất xa lạ (và có lẽ vì mang thương tích nhưng các sử gia đã che giấu). Số quân sĩ của
Nguyễn Hữu Cảnh là những người Việt Nam 'thuần túy" mang từ miền Trung vào. Họ bắt
đầu châm rễ tại những vùng mà bọn di thần nhà Minh chưa khai thác đến. Và họ cũng tự
xưng là dân hai huyện. Vai trò văn hóa, chính trị của họ rất quan trọng, trong những thế hệ
sau. Họ sẳn sàng hưởng ứng việc chúa Nguyễn thành lập những dinh, những tỉnh mới (Định
Tường, An Giang, Hà Tiên) và dưới mắt đám lưu dân đã bị lai căng, đây là những người
"dinh" sang trọng, giữ đúng thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Suốt con đường lui quân của ông Nguyễn Hữu Cảnh, người dân Việt Nam 'thuần túy", đã lập
những đền kỷ niệm. Nguyễn Hữu Cảnh là vị thần được thờ phượng nhiều nơi nhứt, khắp
miền Nam: đình thờ ở Châu Đốc (Hậu Giang), đình thờ ở An Giang (nơi gọi là lòng ông
Chưởng - chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) và tại đây có đến bốn đình thờ (tại các làng An
Thạnh Trung, Long Kiến, Long điền, Kiến An, quan trọng nhứt là Dinh Quan Lớn) đình thờ ở
Định Tường (Tiền Giang), đình thờ ở Biên Hòa (đồng Nai). Tại đình Minh Hương Gia Thạnh
(Chợ Lớn) có bài vị thờ Nguyễn hữu Cảnh. Và ở Nam Vang, ông vẫn được Việt kiều thờ
kính.
Người Việt "hai huyện" sống rãi rác khắp đồng bằng sông Cửu Long, nhờ cuộc hành quân
của ông Nguyễn hữu Cảnh. Do đó, chúng ta thấy miền Nam tuy mang tiếng là lai căng
nhưng vẫn giữ được gốc, từ khỏang năm 1700, tức là hơn 150 năm trước khi người Pháp
đến. Hòan cảnh ấy đã tạo cho người Việt Nam vài cá tính, từ xưa.
Bàn về cá tính ấy là việc hơi trễ. Có lẽ chúng ta không nói được tiếng nào mới lạ vì Đại
Nam Nhứt Thông Chí (soạn thảo từ đời Tự Đức) đã đề cập khá rõ ràng. Xin nêu vài chi tiết
đặc biệt ở Lục tỉnh theo bản dịch của Nguyên Tạo.
Tỉnh Biên Hòa: Nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo
địa ...
Nói Về Miền Nam - Sơn Nam
Ông Hoàng Hiệp Và Trận Giặc Năm 1673
Dân Hai Huyện Và Ông Nguyễn Hữu Cảnh
Nhận Xét Về Ca Dao Hậu Giang
Ăn Ở Cho Đúng Điệu Nghệ
Một Nghệ Thuật "Trưởng Giả Mới"
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nói Về Miền Nam
Sơn Nam
Huyền Băng nghĩ đa số chúng ta thường tự hào về miền Nam Việt Nam với khí hậu ôn
hòa hai mùa mưa nắng, với đồng ruộng mênh mông, sông nước bạt ngàn lắm tôm nhiều
cá. với những người dân bình dị hiền hòa, vậy thì chúng ta hãy theo chân nhà văn Sơn
Nam lần lại một phần lịch sử của dãy đất này, cũng như một số phong tục tập quán để
hiểu rõ hơn về mãnh đất phương Nam và yêu mến nó hơn...
ÔNG HOÀNG HIỆP VÀ TRẬN GIẶC NĂM 1673
Vào hậu bán thế kỷ XVII, ở lãnh thổ Việt Nam xảy ra những trận giặc chót của cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh.
Năm 1648, Trịnh đánh vào Nam Bố Chính và cửa Nhựt Lệ, bị thua to vì tướng Đàng Trong
là Trương Phúc Phấn giữ vững lũy Trường Dục.
Năm 1655, quận Trịnh lại khuấy rối vùng Nam Bố Chính. Tướng Nguyễn Hữu Dật bày kế với
Hiền Vương, xin đánh bất thình lình vào địa phận chúa Trịnh, Hiền Vương đồng ý. Cùng với
Nguyễn hữu Tấn, Nguyễn hữu Dật đánh đâu thắng đấy, chiếm được bảy huyện ở tận Nghệ
an. Các quan lại địa phương lần lượt đầu hàng, dân chúng tiếp đón nhưng họ đâm ra thất
vọng - thuế điền, nhứt là thuế thân (sai dư tiền) đánh quá cao, mặc dầu đó là thuế biểu áp
dụng thường lệ ở Đàng Trong, Nguyễn Hữu Dật phủ dụ dân chúng rằng biện pháp ấy chỉ
tạm thời - nhưng không mấy ai tin tưởng lời hứa hẹn đó.
Quá hăng hái, Dật muốn tiếp tục tấn công nhưng Hiền Vương dạy Dật nên cẩn thận, mọi
việc binh nhung phải bàn bạc trước với Nguyễn Hữu Tấn.
Để giải quyết tình trạng "mắc sa lầy" ở xứ lạ quê người, Dật phát triển tâm lý chiến loan tin
làm hoang mang đối phương, bí mật giao thiệp với Trịnh Tạc. Mặc dầu đã cho Hiền vương
biết trứơc nhưng việc tư thông của Dật gây thêm nhiều thắc mắc với Nguyễn Hữu Tấn - có
lẽ Nguyễn Hữu Tấn ganh công. Vì tiểu tâm, Nguyễn hữu Tấn rút thình lình tất cả quân số về
Nam, cố ý bỏ Nguyễn hữu Dật ở lại một mình. Chừng hay được, Dật vẫn trầm tĩnh, ra lịnh
cho 30 vệ sĩ - số vỏn vẹn ở bên cạnh Dật - phất cờ gióng trống trong lúc rút lui, khiến quân
Trịnh không dám truy kích theo.
Thế là chiến thắng đã hóa ra chiến bại.
Cuối năm 1661, đầu 1662, Trịnh Căn và Lê Thời Hiến đánh thình lình vào tận lũy Đồng Hới.
bị thất thế, Dật rút vào lũy để thủ hòa. . .
Bấy giờ, Hiền vương hiểu thựcl ực của mình hơn bao giờ hết. Theo lời tâu của Nguyễn Hữu
Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa quyết định xây thêm hai lũy nhỏ: Trấn Ninh và Sa Phụ để kiện
tòan hệ thống sẳn có.
Khỏang thời gian hưu chiến 10 năm (1662-1672) giúp Hiền vương chỉnh đốn thuế khóa, tích
trữ lương thảo, Nông Lại tư đặt ra kế họach do ký lục Võ Phi Thừa sọan thảo, nhằm mục
đích đo diện tích các ruộng đất đang khẩn hoang và đã khai khẩn; thuế đánh khá nặng: một
mẫu (chừng 1/3 hectare) ruộng hai mùa phải đóng 40 thắng lúa (1thăng -non 3 lít) và 8 hạp
gạo trắng.
Năm 1667, Trịnh Tạc đuổi Mạc Kính Vũ; Vũ chạy trốn qua Tàu, mầm nội lọan gần như dứt
hẳn.
°
Tháng 6 dương lịch 1672, Trịnh Tạc kéo binh vào Nam, quyết tiêu diệt chúa Nguyễn. việc bố
trí rất khéo léo, chu đáo.
Trịnh Căn làm nguyên sóai, cai quản thủy quân.
Lê Thời HIến (đã từng được tín nhiệm hồi chiến cuộc Nghệ An) thống suất bộ binh.
Mỉa mai nhứt là hòang đế Lê Gia Tông, 12 tuổi, cũng được chúa Trịnh đem đi "ngự giá thân
chinh".
Tất cả quân lực chừng 100.000 người nhưng loan tin là 400.000!
Khi nghe viên Trân thủ Nam Bố Chính cấp báo, Hiền vương bảo với các quan: "Trịnh Tạc đã
suy thời nên vào đâyđánh m6ọt trận chót. Kinh ngiệm xưa nay thì kẻ liều mạng như Tạc bao
giờ cũng thảm bại".
Hiền Vương bàn qua việc lựa chọn vị nguyên sóai của đàng Trong. Các quan đồng ý giao
trách nhiệm ấy cho hòang tử Tôn Thất Hiệp, con trai của Hiền Vương. Hiệp còn trẻ, chưa
9dược 20 tuổi, đang giữ chức Chưởng cơ, chưa từng ra trận lần nào cả!
Tại sao có sự lựa chọn đó? Phải chăng dụng ý của Hiền Vương là cận thần làđối phó với
chúa Trịnh về uy tín chính trị, biểu dương sự trưởng thành của Đàng Trong trên mọi địa hạt.
Đàng Ngoài, Trịnh Căn (40 tuổi con của Chúa) làm nguyên sóai thì ở Đàng Trong, Tôn Thất
Hiệp (non 20 tuổi - con của chúa) đâu kém năng lực!
Trịnh Tạc (67 tuổi) đi theo ủng hộ con; Hiền Vương (55 tuổi) cũng có mặt. Nói chung, ta thấy
Đàng Trong rất trẻ trung, thiếu một hòang để tượng trưng. Nhưng quân sĩ đôi bên dư hiểu
rằng các chúa Trịnh đã nhiều lần bạc đãi, xử giảo các hòang đế họ Lê. Và phen nầy Lê Gia
Tông ra trận với số phận một tù binh của chúa Trịnh, không hơn không kém.
Bộ tham mưu của nguyên sóai Hiệp gồm vệ úy Mai Phúc Lãnh và ký lục Võ Phi Thừa.
Quân Đàng Trong kéo ra Quảng Bình. Chưởng ơc Trương Phúc Cang (con Trương Phúc
Phấn) đi tả tiên phuông, giữ lũy Trấn Ninh, đó những đòn tấn công mãnh ☲ệt của địch. Lão
tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ được giữ lũy Sa Phụ (hữu ngạn sông Nhựt Lệ), ở mặt trận thứ
yếu. Hữu Dật bị đặt vào địa vị ấy, phải chẳng do sự cố ý của Hiền Vương, hoặc vì lý do
chiến thuật.
Vào khỏang tháng 9-10 dương lịch 1672, Trịnh Căn và quân sĩ đến Nam Bố Chính.
Lạ thay! Các tướng của Trịnh và Nguyễn nhìn nhau, dò xét, hăm dọa nhau hơn ba tháng
trường rồi mới chịu đánh thật sự bằng gươm dáo và đại bác.
Mở đầu, Trịnh Căn dùng tâm lý chiến, kêu gọi Đàng Trong, tố cáo việc các chúa Nguyễn
không phục tùng nhà Lê, xây thành đắp lũy, bày sưu cao thuế nặng . . .đồng thời, Trịnh Căn
thử tấn công vào lũy Đồng Hới, chọn nơi kém phòng thủ nhứt của đối phương để xây một
chiến lũy khác đối diện, rồi đưa 1.000 chiến thuyền (?) đến vàn sông Gianh và vàn sông
Nhựt Lệ, chờ đổ bộ.
Biết tình thế nguy ngập, Tôn Thất Hiệp khiến tham tướng Lễ đắp nên lũy Trấn Ninh, bố trí
thêm súng thần công - mặt khác, cấp báo với Hiền Vương.
Hiền Vương dọ ý kiến. cai cơ Tổng Đức Minh tâu: Quân Trịnh đi đường xa, sẽ gặp khó khăn
về lương thảo. Ta nên cố thủ tại lũy, trì hõan thời giờ, chờ khi chúng mòn mỏi rồi hãy đánh.
Trần Đinh Ân đưa kế họach: Thực lực của quân Trịnh dưới 100.000 người, không quá hùng
mạnh như chúng loan tin. Ta cứ đồn rằng quân ta đông đảo, 160.000 người, hiện đang mộ
thêm 100.000 nữa, tất cả do hòang tử HIệp chỉ huy, ắt địch quân phải xao xuyến, hoang
mang.
Hiền Vương đồng ý, tuyển mộ thêm quân rồi tức khắc hạ lệnh chỉnh đốn các trạm địch, tăng
cường sự phòng thủ miền duyên hải, từ Đồng Hới đến Huế.
Sứ giả của Trịnh Căn đến trước lũy Trấn Ninh. Hòang tử Hiệp sai Cai cơ Tú Minh ra tiếp
kiến. Cuộc đấu khẩu diễn ra sôi nổi. luận điệu cho rằng các chúa chống lại nhà Lê đã bị Tú
Minh bác bỏ: Các Chúa Nguyễn rất trung thành với nhà Lê vì vậy cương quyết diệt họ Trịnh,
kẻ lấn quyền, áp chế nhà Lê.
Dứt cuộc đàm phán ngắn ngủi ấy, Nguyễn Hữu Dật bàn với hòang tử HIệp:
- Tên sứ giả nọ trở về báo cáo thái độ cứng rắn của ta cho Trịnh Căn biết, Trịnh Căn tức
giận sẽ tấn công lập tức. Quân sĩ ta phải sẵn sàng ứng phó từ giờ phút này.
Tháng 1 dương lịch 1673, phó tướng của quân Trịnh là Lê Thời Hiến xua quân, hạ trại đối
diện lũy Trấn Ninh. Đợt tấn công đầu tiên của Hiến bị tan vỡ nhanh chóng. Trịnh Tạc nổi
xung, nghiêm phạt các quân bại trận.
Với lực lượng cũ, tăng cường thêm 3.000 quân, Lê Thời Hiến hùng hổ mở cuộc tấn công
thứ hai. Đông như kiến cỏ, quân Trịnh liều chết xung phong mãnh liệt, dùng chất "bộc phá"
đặt vào lũy Trấn Ninh, đốt cháy dẫn hỏa treo vào diều giấy thả qua tận chót lũy, đào hầm ẩn
núp dưới cơn mưa đạn do quân sĩ Đàng Trong từ trên lũy nã trả xuống như mưa.
Chỉ trong vòng một ngày chiến đấu, lũy Trấn Ninh bị phá nhiều chỗ, bị chiếm, giải vây được
rồi bị tái chiếm đến ba bốn lượt.
Hoảng sợ, Trương Phúc Cang toan bỏ lũy, qua thủ bên này sông Lê Kỳ nhưng hòang tử
Hiệp không đồng ý, e tổn hại cho sĩ khí ba quân. Bấy giờ, hòang tử Hiệp nghĩ đến các giải
quyết chót: Sai quân phi ngựa đến lũy Sa Kỳ, truyền cho lão tướng Nguyễn Hữu Dật phải
tức tốc qua lũy Trấn Ninh để cứu khổn.
Nhận lịnh ấy, Nguyễn Hữu Dật lạnh lùng trả lời: "Ta chỉ lo gìn giữ lũy Sa Phụ nầy mà thôi.
Ngay từ ồi đầu chiến trận, ta không được ai chia sớt trách nhiệm nào ở lũy Trấn Ninh cả. Ta
không dám đi!" Lúc vận mạng đàng Trong như chỉ mành treo chuông, tại sao Nguyễn Hữu
Dật bất tùng quân lịnh? Chúng ta nên hiểu tâm trạng của Nguyễn Hữu Dật lúc ấy, tuổi quá
cao, 69 tuổi. Phải chăng Nguyễn Hữu Dật bất mãn khi thấy mình bị bố trí ở cánh quân
không quan trọng? Hiền Vương không còn tín nhiệm đầy đủ nơi Dật? Hai mươi bốn năm về
trước, khi còn là Cai cơ, lãnh chức ký lục ở dinh Bố Chánh, Dật đã một phen bị tình nghị
"thông đồng với Chúa Trịnh" nhơn đó bị giam. Sau Hiền Vương tha tội, đuổi Dật về làm văn
chức ở chánh đinh để tiếp tục theo dõi hành động tư tưởng. Hồi ấy, kẻ ám hại Dật chính là
Tôn Thất Tráng, cha vợ của Tôn Thất Hiệp bây giờ. Rồi đến chiến sự Nghệ An còn nóng
hổi! Dật cũng bị Tôn Thất Tráng, nhứt là Nguyễn Hữu Tấn xuyên tạc sự thật, dèm pha với
Hiền Vương về tội "thông đồng với địch". Tuy biết sự thật đen trắng ra sao nhưng Hiền
Vương không hề khiển trách những kẻ đã vu khống Nguyễn Hữu Dật. Rất may là Tấn Đã
chết, nếu không, chưa chắc phen nầy Hiền Vương còn thu dụng Dật ở nhiệm vụ không quan
trọng là giữ lũy Sa Phụ! "Nhứt chiến tài tình thiên cổ lụy". Sách lược "liên lạc với địch để tìm
hiểu rồi ly gián địch: đã được Dật áp dụng đem nhiều kết quả có lợi cho sự nghiệp Đàng
Trong nhưng mấy ai chịu hiểu giùm. Dầu muốn hay không, Dật thấy sự nghiệp tinh thần của
mình bị sụp đổ, sau 50 năm phò chúa, bằng xương bằng máu (từ hồi Sãi Vương còn sống).
Nhưng phút giây bất mãn ấy chỉ thỏang qua.
Dật hối hận ngay, chạy nhanh lên lũy Sa Phụ, đứng quan sát thực tế của chiến trận. Bên kia
sông, súng thần công nổ vang rền, khói bốc mịt trời che lấp lũy Trấn ninh. Chắc chắn Lê thời
Hiến chiếm ưu thắng và tướng sĩ Đàng Trong đang đại bại ở ngay mặt trận chánh.
Dật dư hiểu: Nếu mình không đi cứu viện thì hòang tử Tôn Thất Hiệp phải đi cứu viện - và
giờ nầy đang đi. Liệu vị nguyên sóai quá trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm ấy đủ sức ứng phó? Dật
tức tốc lên yên, kéo quân đến Trấn Ninh, dọc đường, Dật cẩn thận vạt vỏ viết vào thân cây
mấy chữ tóm tắt: "Hữu Dật đã qua cứu viện lũy Trấn Ninh, xin hòang tử đến giữ lũy Sa Phụ
đang bỏ trống".
Đọc tin ấy, hòang tử Hiệp qua Lũy Sa Phụ.
Để chận nẻo qua sông của quân cứu viện, Trịnh Căn khiến Tham đốc Thắng đưa 30 chiến
thuyền vào tuần tiểu sông Nhựt Lệ nhưng bị hòang tử Hiệp bố trí đánh tan.
Trời tối như mực, ngửa bàn tay không thấy, khi Nguyễn Hữu Dật đến Trấn Ninh; binh sĩ lớp
chết, lớp bị thương, số còn lại; chiến đấu gần như tuyệt vong. Dật ra lịnh gom nhánh cây, cỏ
khô, đốt lên sáng rực. Biết có viện binh đến, quân Trịnh hỏang hốt, không dám tiến. Suốt
đêm, Dật đốc suất quân sĩ tích cực sửa chữa khỏang lũy khá dài bị phá hư (30 trượng:
120mét). Nhưng trời vừa rạng sáng, Lê Thời Hiến lại tấn công. Quân sĩ Đàng Trong vững
tinh thần, chống trả mãnh liệt. Có lẽ trong giờ phút ấy Nguyễn Hữu Dật đã khích lệ quân sĩ
với câu nói: "Kẻ ở trước mặt chúng ta chính là bọn ngọai bang!"
Ngày ấy, hai bên liều chết, xung phong, bị phản xung phong, rồi liên tiếp nhiều ngày như thế
. . Quân Đàng Ngòai chết quá nhiều. Quân Đàng Trong chết không kém.
Hiền Vương sai người đến trận địa để tìm hiểu, Dật đáp: "Xưa kia, quân ta đánh tận địa
phận của chúng ở Nghệ an vậy mà chúng sợ ta, huống hồ hôm nay ta đã làm chủ tình hình
tại đất nhà, có thành cao, hố sâu ngăn giữ". Dật cũng viết thơ với Hiền Vương, thề sẽ đem
hết tài sức đềnđáp ơn chúa, nếu sơ sót thì xin chịu tội theo quân luật.
Gíó bấc thổi mạnh, mưa phùn lê thê, ray rứt, lạnh lẽo hơn bao giờ hết. Tự nhận rằng không
thắng nổi Đàng Trong, Trịnh Tạc bắt đầu trở về: Tiết trời bất lợi; sau bảy tháng vắng mặt, ở
Hà Nội liệu xảy ra biến cố gì trong phủ chúa chăng?
Tất cả tù binh, thường dân . . . được Trịnh Tạc cho tiền bạc quần áo, phóng thích tại chỗ;
họ muốn đi về đâu thì cứ đi.
Sa vào kế nghị binh của hoàng tử Hiệp, Lê thời Hiến không dám nán lại chiến đấu, bèn kéo
binh tút lui sau khi hay tin các chiến thuyền của Trịnh Căn đã rời cửa Nhựt Lệ theo . .. trận
gió ngược.
Chiến trận đã tàn!
Mùi thuốc súng như còn phảng phất. Nhưng khói hương bắt đầu tỏa nghi ngút từ bên trong
lũy Trấn Ninh, khói hương của lễ giải oan do hòang tử Hiệp tổ chức cho oan hồn tử sĩ Đàng
Trong.
Hòang tử không quên đặt đàn tràng bên kia lũy, bày cuộc lễ tương tự để cầu siêu cho tử sĩ
Đàng Ngoài.
Những người chết được yên ủi phần nào khi thấy con cháu của họ bắt đầu từ đấy hưởng
thanh bình - mãi 100 năm sau, mới chết chóc nữa!
Theo lịnh của hòang tử Hiệp, số tù binh ở Đàng Ngòai -và già trẻ bé lớn, nạn nhân thời cuộc
-bấy lâu bị giam giữ có thể trở về quê, với tiền bạc, quần áo cấp phát đẩy đủ; không một ai
bị giết cả.
Tháng 4 dương lịch 1673, hòang tử đến Thạch Xá. Hiền Vương mừng rỡ, khen ngợi, ban
thưởng 100 lượng vàng, 1.000 lượng bạc, 50 tấm vóc gấm.
Hòang tử Hiệp đáp lời lẽ chân thành:
"Nhờ uy lực của cha, nhờ công lao của tướng sĩ mới có cuộc vui đại thắng này. Một mình
con làm sao thắng nổi?" Hiền Vương khen: "Con hãy nhận vì con rất xứng đáng".
Hòang tử Hiệp nhận lãnh vàng bạc nhưng liền sau đó chọn cho mình một thái độ: Phát
nguyện trở thành phật tử - cà tích cực hơn - từ bỏ gia đình, thế phát xuất gia không chút do
dự, tuy mới 20 tuổi.
Sử chép: Khi chỉ huy chiến trận, ông hòang Hiệp sống khắc khổ, ngồi trong trại, chỉ có hai vệ
sĩ túc trực bên cạnh. Lần nọ, một lão già ở Quảng Bình tên Bật Nghĩa đến trại với ý định
"tiến" cho ông hòang một thiếu nữ xinh đẹp. Ông hòang từ chối nhưng không quên cấp cho
lão già 10 quan tiền, hiểu rằng người cha nọ hành động như vậy chỉ vì quá túng thiếu cơm
áo, thời loạn.
Sự chọn lựa bất ngờ của hòang tử Hiệp không khó hiểu lắm. Tám tháng ở chiến trận là cả
một đời người, là cả thể kỷ thứ XVII ở Việt Nam! Hẳn ông hòang Hiệp thầm đau xót cho
đường họan lộ quá đắng cay của lão tướng Nguyễn Hữu Dật! Giữa cảnh máu xương lầy lội,
tiếng đại bác vang rền, mùi diêm sanh nồng nặc, ông hòang dư hiểu rằng từ bấy lâu các
thương gia Hòa Lan, Bồ Đào Nha cạnh tranh nhau ở Đàng Ngòai, ở Đàng Trong, để mua tơ
lụa, quế, trầm hương và bán các nguyên liệu giết người. Họ lấn nhau, dùng mọi thủ đoạn
tinh vi nhứt.
Ông hoàng cũng thấy tận mắt những chiếc đồng hồ kiểu Tây phương và tuy xa gia đình, ông
hay tin đứa con trai của mình - Tôn Thất Lễ - sau cơn bệnh nặng mà các ngự y điều trị
không nổi, đã rửa tội theo phép Công giáo (1674).
Sanh, lão, bịnh, tử . . ông hòang Hiệp nhận rõ, thấm thía, không kém Thái tử Tất Đạt Đa
ngày xưa khi ra bốn cửa hòang thành.
Ông "dũng mãnh, tinh tấn', khiêm tốn nhận mình là một chúng sanh trong kiếp sát na. Vì đã
từng đau khổ giữa cuộc thế, đã từng đóng vai người anh hùng, ông muốn thành tâm tìm một
cõi cực lạc thực tế, sống ẩn dật như nhà hiền triết đủ can đảm, im lặng.
Ông liễu đạo năm 23 tuổi (1653 - 1675) , ngày rằm tháng 6 năm Ất Mão, an táng ở làng
Hiền Sĩ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, có lẽ không lưu lại một bút tích, một bài thơ
truyền khẩu nào. Nhưng hậu thế tưởng còn nhận được hình bóng bất diệt của ông qua nụ
tười phảng phất trên môi của các tượng Bồ Tất trong chùa, giữa tiếng kệ kinh.
Trăm năm sau, anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa (1773), đại phá quân Thanh (1789) làm
rạng danh tòan đất Việt.
(Trong quận 10 thành phố Hồ Chí Minh (gần trường đua Phú Thọ, nay là sân vận động),
chúng ta có đường Tôn Thất Hiệp, nhưng không biết có mấy ai cư ngụ trên đường biết đến
lịch sử của con người tài đức này!)
DÂN HAI HUYỆN VÀ ÔNG NGUYỄN HỮU CẢNH
Phàm người Việt yêu nước, ai lại chẳng muốn nói, muốn nghe đến vẻ đẹp của giang sơn
gấm vóc tức là phong cảnh núi sông, với bao nhiêu hào khí.
Để tượng trưng cho đất nước thân yêu, nhiều người vẽ bản đồ Việt Nam với những lằn nét
mơ hồ, sau đỉnh hương trầm cuồn cuộn khói. Hoặc là chùa Một Cột, lăng tẩm Huế rồi đến
cổng lăng ngài Tả quân Lê Văn Duyệt.
Ba kiểu kiến trúc tiêu biểu cho ba miền, cũng khá cụ thể nhưng chưa ổn. Chúng tôi đã xem
một bức tranh nho nhỏ, trong đó cái cổng lăng ngài Tả quân được thay thế bằng hình ảnh
một cô gái đội nón lá, chèo xuồng trên kinh rạch, giữa biển lúa vàng: Đã bắt đầu gợi được
niềm vui tươi, phóng khóang rồi đấy! Nhưng cũng chưa thỏa mãn. Tại sao cô gái ấy chèo
xuồng một mình và cười một mình. Cô ta sẽ già, hóa đá chăng? Còn thiếu một điều gì, khó
nói - nhưng có lẽ quan trọng khi muốn tìm một hình ảnh tượng trưng cho cá tính miền Nam.
Có bạn nóng nảy nói nhanh:
- Tại sao lại khó tính, lẩm cẩm như vậy? Cứ đờn ca vọng cổ, ăn nhậu say sưa, lựa món
ngon vật lạ nào lượn ếch rùa rắn là đầy đủ bản sắc miền Nam rồi. Nếu cần bổ túc thì cứ nói
thêm: Người miền Nam hiền lành, không có gì sâu sắc, ít lo xa, hơi lười biếng, ưa nói thẳng.
..
Nhận xét ấy đúng nhưng vẫn còn hời hợt. Nếu chỉ có bao nhiêu nét không sâu đậm ấy thì
liệu ông cha ta có giữ nổi đất và sống nổi đến ngày nay chăng? Trong lịch sử nhân lọai, bao
nhiêu dân tộc đã mất tên, trong khi họ ít "lo xa, không gì sâu sắc; hơi lười biếng; ưa nói
thẳng!"
Miền Nam là phần đất cay nghiệt, đã từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng bao
nền văn hóa. Lịch sử đã cho biết: Xưa kia, tại đồng bằng sông Cửu Long đã mọc lên vương
quốc Phù Nam. Vương quốc này phồn thịnh nhờ làm trung gian thương mãi giữa vài nước
Đông Nam Á: còn lưu lại vài đồng tiền vàng La Mã, có thể làm giả thuyết cho sự liên lạc
giữa Phương Tây và miền Nam từ thế kỷ thứ III, cách đây 1.600 năm. Ấy thế mà nước Phù
Nam lâm vào cảnh tang thương, tang thương cho đến nỗi các nhà khảo cổ giỏi nhứt cũng
chẳng tài nào ức đóan: Người Phù Nam thuộc vào dân tộc nào? Tiểu quốc của họ bị diệt
vong từ đâu? Và ngay đến cái tên tạm bợ là Phù Nam! Các sử gia chỉ biết tên ấy xuyên qua
vài trang sử đời Lương, đời Đường bên Tàu; Ngày nay ta đọc hai chữ nho Phù Nam, và
chẳng hiểu các sử gia Tàu có phiên âm lại đúng giọng cái tên của một tiểu quốc bé bỏng,
tuy giàu sang nhưng sớm mai một? Căn cứ vào các nền nhà, đồ trang sức tìm được tại
vùng đất xưa bên kia Hậu Giang, chúng ta quả quyết: Nước Phù Nam bị tiêu diệt vì văn hóa
của họ chẳng biểu lộ nét gì đặc sắc, tòan là góp nhặt văn hóa Ấn Độ, Ba Tư. Thế thôi.
Bao nhiêu thành quách bị chôn vùi dưới lớp phù sa, trở thành một vùng đồng chua hoang
dại. Thế mới hay: Phù sa sông Cửu Long và biển Nam Hải có sức mạnh tiêu diệt những
nhóm người lưu vong, ăn xổi ở thì, thiếu cá tính. Và những kẻ đến sau đó, tuy đã thôn tính
tiểu quốc Phù Nam nhưng vẫn bị sa lầy, trụ hình torng nếp sống mộc mạc, kiếm ăn ngày
nào hay ngày ấy, tập trung nhà cửa trên vài giồng đất cao ráo, khai thác sơ sài vùng phụ
cận. Và ra khỏi xom chừng vài trăm thước là cây cỏ mọc hoang, dày bịt, làm sào huyệt cho
cọp, voi. Ở vùng đất phù sa ẩm thấp mà sanh họat của nhóm người ấy thu hình lại như một
số thôn bản miền sơn cước.
Phù sa sông Cửu Long, vinh Xiêm La đã chôn vùi nước Phù Nam!
Phù sa sông Cửu Long, vịnh Xiêm La đã trở thành vùng sơn cước đối với người Miên!
Người Việt Nam lại xuất hiện, nhận lãnh bao thử thách.
° °
°
Họ là những người ở Bình Dịnh, Quảng Nam. Họ chán chê những thửa ruộng kém mầu mỡ
nhỏ hẹp, giới hạn bởi dãy Trường Sơn khô cằn và biển Đông đầy giông bão. Trên những
thửa ruộng ấy, dường như người Chiêm Thành đã chịu thua thiên nhiên: Họ ít chịu ly hương
và điểm quan trọng nhứt là họ quá bảo thủ về văn hóa, chẳng muốn làm kẻ "lai căng" hầu
đón gió bốn phương. Người Việt Nam ta thích đi xa và giàu tinh thần dung hòa. Vùng đồng
bằng Đồng Nai và Cửu Long đang hcờ đón. Từ đời Hiền Vương cách đây 300 năm, người
Việt Nam trong thời Nam Bắc phân tranh đã sẳn sàng đi xa hơn ranh giới của quê cha. Họ
theo đường biển, dùng ghe đánh lưới, đến tận mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc.
Sử sách gọi đó là đám người "lưu dân", người không căn cứ nhứt định, sống phóng túng,
nghĩa là những phần tử bất hảo, dốt nát, thiếu luân lý, bị luật lệ và phong tục lên án. Tóm lại,
đám dân tứ chiếng trốn xâu lậu thuế ấy phá hại văn hóa hoặc thuộc vào trình độ văn hóa
thấp.
Gần đây, vài nhà xã hội đã minh xác khả năng kiến tạo và tinh thần đạo đức của những lưu
dân từ Âu Châu sang lập quốc tận Mễ Tây Cơ, Ba Tây. Đa số chỉ là nạn nhân, lắm khi là tội
nhân bị lên án rất oan ức bởi luật lệ và luân lý phong kiến. thử xem lại vài chi tiết của bộ luật
Hồng Đức, đời Lê: giết trâu vô cớ, trai gái ăn ở với nhau theo kiểu tự do kết hôn, chống đối
với cường hào ác bá, đều là những tôi có thể bị đày gần (lưu cận chu), đày xa (lưu viễn
chu) và đày ra khỏi biến giới tổ quốc (lưu ngọai chu). Ở nước ta, các vùng Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và ngay cả vùng tỉnh Thanh Hóa há chẳng phải do một
số đông tội nhân bị lưu hình đến khai thác. Thực tế chứng minh rằng thế hệ của họ và các
thế hệ về sau đã góp công xây dựng văn hóa bảo vệ được thuần phong mỹ tục.
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, một số lưu dân khá đông đến thám hiểm và định cư tại ven
biển và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nói chung, người xa lìa tổ quốc thường ưa thích
mua bán - thứ nghề dễ sinh lợi, ít cực nhọc. Nhưng số lưu dân Cửu Long không chọn con
đường dễ sống đó. Nhiều người cho người Việt Nam ít có khiểu về thương mãi. Rất có lý
nhưng cũng vô lý. Lúc bấy giờ , đám lưu dân Việt Nam đủ sức tranh thương với người
Miên, nói rõ hơn là họ đủ sức tổ chức thương mãi, đầu cơ hàng hóa ở một vùng mà nền
thương mãi còn trong tình trạng đổi chác sản phẩm.
Thái độ của đám lưu dân thật sự rõ rệt: họ lo khai thác đất hoang, đương đầu với bệnh tật,
cọp sấu, đùa giỡn với song biển. Họ chọn lực con đường đầy khó khăn, đầy vinh quang mà
có người cho rằng dại khờ, hời hợt. Miễn sao cho những kẻ đến sau được thừa hưởng di
sản quí báu của họ. Mặc cho kẻ khác phỉ háng, hiểu lầm. Họ chịu cực nhiều nhưng hưởng
rất ít. Đó là thái độ bám sát đất nước, tin tưởng nơi khả năng của con người. con người sẽ
biến đổi bùn lầy ra cơm, sẽ lập đình chùa trên biển cỏ. Hòan tòan tinh tưởng vào thiên
nhiên, cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên. Vì vậy mà các tay anh hùng hảo hớn thích
sống riêng biệt, mỗi người làm chủ một địa bàn riêng, chiếm cứ một con rạch, một cù lao.
Trong căn chòi nhỏ bé, với dụng cụ thô sơ và thuốc men hầu như không có, họ dám thi gan
chịu cảnh cô độc của con phượng hòang trên đỉnh núi, của con cù nằm vùng lâu năm, chờ
thời. Lúa gạo, cá tôm nếu dư dã thì tặng cho bạn bè, để dành, nếu để dành ăn không hết
thì bỏ. Một kiểu người hùng trong tiểu giang sơn. Thà là làm đầu gà hơn là đuôi voi. Nếu
cần làm việc thì sẳn sàng chịu đựng khổ nhọc, sau khi làm việc khó nhọc thì nên hưởng lạc
lập tức, và hưởng lạc đến mức tốc độ.
Họ không bao giờ là những người Do Thái lang thang. Đất nước qua phì nhiêu, phần đất
nước ấy không xa lìa tổ quốc, trái lại, nó nối liền về mặt địa ;ý.
Trong những năm Trịnh - Nguyễn phân tranh, dường như chúa Nguyễn bỏ rơi họ. Nhưng
một cơ hội mới lại đến, đem may mắn cho đất nước: bọn di thần nhà Minh xin di trú nơi
phần đất của chúa Nguyễn. Hiền Vương giải uqyết một cách thần tình: cho phép họ vào
vùng đồng bằng miền Nam mà khai khẩn. Vùng ấy, lúc bấy giờ, mặc nhiên nằm dưới sự bảo
trợ về mặt chánh trị của chúa Nguyễn.
Sử đã chép nhiều về các tướng Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch. Và nàh tổ chức Mạc
Cửu. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh vài điểm quan trọng:
- Trần Thắng Tài chú trọng mở mang thương mãi và tiểu công nghệ ở vùng cù lao Phố (Biên
Hòa), nhứt là thương mãi. Sau khi chợ cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá, các thương gia rủ
nhau xuống vùng chơ Lớn lập cơ sở thương mãi khác.
- Dương Ngạn Địch đến vùng Mỹ Tho lập ra trang trại ở vùng Tân Hiệp, mỹ tho qua địa
phận Bến Trẻ ngày nay. Nhóm nầy chú trọng đến thương mãi và nghề ruộng rẩy.
- Mạc Cửu đến vùng chợ Hà Tiên, nhắm vào việc mở mang thương cảng, tổ chức sòng bạc
và làm trung gian chánh trị, cố ý đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử ngọai giao giữa chúa
Nguyễn, Cao Miên và Xiêm La.
Bấy lâu, chúng ta thường dùng danh từ "khai hoang" với nhiều nghĩa mơ hồ. Cần phải xác
định vai trò của bọn di thần nhà minh ở miền Nam, lúc họ mới đến. Trừ trường hợp Dương
Ngạn Địch ở Mỹ tho, các ông Mạc Cửu và Trần Thắng Tài chỉ chú trọng việc thương mãi, tổ
chức phố chợ mà thôi. Nhứt là ông Mạc cửu, ông này quá thiên về họat động chánh trị. Vì
vậy, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy vùng phụ cận chợ Hà Tiên và chợ Biên Hòa còn quá
nhiều đất hoang, chưa canh tác. Số quân sĩ đi theo Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch và
số mưu sĩ đi theo Mạc Cửu đều nghiêng về nếp sống thành thị, sống tập trung, lo buôn bán
hoặc phát triển tiểu công nghệ. Thành thị đóng vai trò quan trọng cần thiết. Điều ấy đã đành,
những chúng ta nên ghi rõ; chính những người thành thị nầy đã hưởng lợi khá nhiều, trong
khi đám lưu dân đã sản xuất quá nhiều nhưng hưởng không bao nhiêu. Nhờ việc phân phối
xuất cảng sản phẩm do bọn di thần nhà Minh nắm giềng mối, đám lưu dân Việt Nam ở ven
rừng, ở bờ biển được cải thiện đời sống và càng hăng hái làm việc.
Đám lưu dân chịu thiệt thòi ít nhiều nhưng vẫn vui. Bằng cớ là họ không nổi lọan. Họ vui, có
lẽ vì một lý do khác hiển nhiên, nhưng thầm kín hơn. Quân sĩ của Trần Thắng Tài, Dương
Ngạn Địch và bọn thân thuộc của Mạc cửu gồm đa số là đàn ông! Họ cần lập gia đình sanh
con nối dõi tông đường và do đó, họ phải cưới đàn bà Việt Nam làm vợ. Đàn bà Việt Nam
bấy giờ có lẽ hơi ít nên được ông chồng Trung Hoa ưu đãi. Đàn bà Việt Nam lãnh phần nấu
nướng thức ăn, làm bánh trái và dạy dỗ đàn con . . hai dòng máu. Một dịp để cải cách kỹ
thuật nấu bếp. Trong sự chung đụng nầy, bao nhiêu phong tục Việt Nam và Trung Hoa cọ
sát và dung hòa nhau. Lại có thêm nhiều danh từ Triều Châu được Việt hóa. Lễ Thanh Minh,
lễ cúng Giới tử Thôi, và Khuất Nguyên đượm vẻ long trọng. Ngoài ra, còn tục lệ thắp đèn
trời. Số người lưu dân Việt Nam được tiếp xúc trực tiếp thường với người Trung Hoa lúc
mua bán, cụ thể hơn, họ tiếp xúc với những nông dân Triều Châu, hoặc Hải Nam và Quảng
Đông. Họ chịu khá nhiều ảnh hưởng về phong tục của nông dân miền Nam Trung Hoa (trong
khi đó, người Việt ở Bắc Phần hiểu văn hóa Trung Hoa theo đường lối thượng tầng qua Tứ
Thi, Ngũ Kinh). Ảnh hưởng của Thiên Địa Hội lan tràn vì bọn di thần nhà minh vẫn nuôi giấc
mộng bài Mãn. Và đạo Phật được truyền bá tiếp do các nhà sư từ Quảng Đông đến.
Đứng về danh nghĩa chánh trị, tất cả bọn di thần nhà Minh và đám lưu dân Việt Nam đều
sống dưới quyền bảo hộ của chúa Nguyễn. Trong lúc chúa Nguyễn bận rộn vì chiến tranh
với chúa Trịnh, vùng đồng bằng với số lưu dân anh hùng 9dịa phương và số người lai căng,
dễ trở thành một khu vực tự trị vì dầu muốn dầu không, bọn di thần vẫn mang nặng mưu đồ
lập tiểu quốc.
May thay, cuộc Nam Bắc phân tranh chấm dứt. Năm 1698, Minh Vương Nguyễn phúc Chu
nảy ra một sáng kiến thần tình. Ngài phái một vị quan kinh lược tòan tài vào Nam: Ông
Nguyễn Hữu Cảnh. Ông nầy lãnh trách nhiệm đặt cơ sở hành chánh ở miền Nam biên thùy,
chánh thức xem vùng Đồng Nai và Sài Gòn là hai huyện đầu tiên của nước Việt Nam: huyện
Phước Long và huyện Tân Bình. Sử chép rõ: Ông Nguyễn Hữu Cảnh mộ thêm một số lưu
dân Việt Nam, từ Quảng Bình trở vào, đem định cư vào hai huyện đầu tiên nầy, để tăng dân
số và để tăng chất lượng văn hóa. Dầu gì đi nữa, số lưu dân đến sau đi theo ông Nguyễn
Hữu Cảnh, cũng là những người Việt "thuần túy" so với số người đã định cư từ trước.
Dân Sài Gòn và dân Biên Hòa tự nhận là "Dân hai huyện" - một danh hiệu sang trọng chứng
nhận họ không phải là dân lai căng.
Đó là việc chỉnh đốn chính trị và văn hóa ở vùng sông Đồng Nai.
Còn vùng đồng bằng sông Cửu Long, với sông Tiền, sông Hậu và vùng mũi Cà Mau? Làm
sao giải quyết được? Vùng ấy ở nơi xa xôi nhưng có tương lai kinh tế gần như vô tận với
lúa gạo và cá mắm.
Năm sau, ở đất Cao Miên có cuộc làm phản. Chính ông Nguyễn Hữu Cảnh được lãnh trách
nhiệm kéo quân đến tận Nam Vang. Ông thắng trận nhưng khi trở về, cánh quân ấy mệt
mỏi, rút lui theo con đường Châu Đốc xuống An Giang, qua Vĩnh Kim (Định Tường). Tại
đây, ông Nguyễn Hữu Cảnh mang bịnh mà chết. Linh cữu của ông được đưa về Biên hòa,
đình trú tại đó.
Thử nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rõ: cánh quân ấy vượt qua con đường xuyến suốt đồng
bằng sông Cửu Long, từ sông Hậu giang qua Tiền Giang đến sông Đồng Nai. Ông Nguyễn
Hữu Cảnh đã cho đình binh (trú quân) tại tả ngạn sông Hậu, trước khi qua sông Tiền Giang,
trút hơi thở cuối cùng (năm 1700). Bao nhiêu thương binh, bịnh binh và quân sĩ đã được dịp
giải ngũ - hoặc đào ngũ - theo lộ trình ấy. Ông Nguyễn Hữu Cảnh đã mang bịnh vì khí hậu ở
vùng đất xa lạ (và có lẽ vì mang thương tích nhưng các sử gia đã che giấu). Số quân sĩ của
Nguyễn Hữu Cảnh là những người Việt Nam 'thuần túy" mang từ miền Trung vào. Họ bắt
đầu châm rễ tại những vùng mà bọn di thần nhà Minh chưa khai thác đến. Và họ cũng tự
xưng là dân hai huyện. Vai trò văn hóa, chính trị của họ rất quan trọng, trong những thế hệ
sau. Họ sẳn sàng hưởng ứng việc chúa Nguyễn thành lập những dinh, những tỉnh mới (Định
Tường, An Giang, Hà Tiên) và dưới mắt đám lưu dân đã bị lai căng, đây là những người
"dinh" sang trọng, giữ đúng thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Suốt con đường lui quân của ông Nguyễn Hữu Cảnh, người dân Việt Nam 'thuần túy", đã lập
những đền kỷ niệm. Nguyễn Hữu Cảnh là vị thần được thờ phượng nhiều nơi nhứt, khắp
miền Nam: đình thờ ở Châu Đốc (Hậu Giang), đình thờ ở An Giang (nơi gọi là lòng ông
Chưởng - chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) và tại đây có đến bốn đình thờ (tại các làng An
Thạnh Trung, Long Kiến, Long điền, Kiến An, quan trọng nhứt là Dinh Quan Lớn) đình thờ ở
Định Tường (Tiền Giang), đình thờ ở Biên Hòa (đồng Nai). Tại đình Minh Hương Gia Thạnh
(Chợ Lớn) có bài vị thờ Nguyễn hữu Cảnh. Và ở Nam Vang, ông vẫn được Việt kiều thờ
kính.
Người Việt "hai huyện" sống rãi rác khắp đồng bằng sông Cửu Long, nhờ cuộc hành quân
của ông Nguyễn hữu Cảnh. Do đó, chúng ta thấy miền Nam tuy mang tiếng là lai căng
nhưng vẫn giữ được gốc, từ khỏang năm 1700, tức là hơn 150 năm trước khi người Pháp
đến. Hòan cảnh ấy đã tạo cho người Việt Nam vài cá tính, từ xưa.
Bàn về cá tính ấy là việc hơi trễ. Có lẽ chúng ta không nói được tiếng nào mới lạ vì Đại
Nam Nhứt Thông Chí (soạn thảo từ đời Tự Đức) đã đề cập khá rõ ràng. Xin nêu vài chi tiết
đặc biệt ở Lục tỉnh theo bản dịch của Nguyên Tạo.
Tỉnh Biên Hòa: Nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo
địa ...
 





